Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí Quyết Ôn Thi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí Quyết Ôn Thi. Hiển thị tất cả bài đăng

4/14/2012

Bí quyết học và làm tốt bài thi môn Lịch sử năm 2012

Chỉ còn khoảng 50 ngày nữa các sỉ tử bước vào kì thi tốt nghiệp THPT, trong đó có môn thi Lịch sử. Lịch Sử là môn học bắt buộc phải nhớ và biết cách làm bài. Vậy làm thế nào để nắm chắc kiến thức và làm bài thi đạt kết quả cao? PGS,TS Đặng Thanh Toán, Đại học Sư phạm Hà Nội đưa ra những lời khuyên hữu ích cho các thí sinh:

Với môn Lịch sử, trước hết thí sinh phải nắm được kiến thức cơ bản. Không thuộc các sự kiện lịch sử thì không thể làm bài được. Chương trình Lịch Sử lớp 12 tuy đã giảm tải nhưng vẫn còn nhiều. Để thuộc cần phải học nhiều, học có suy nghĩ và hiểu nội dung chứ không phải học vẹt. Học vẹt không bao giờ thuộc và không thể làm bài tốt được.


Cách học nên đi từ khái quát đến chi tiết. Chẳng hạn phải nắm được chương trình Lịch Sử lớp 12 gồm những phần nào? bài nào? Mỗi phần, bài có những nội dung quan trọng nào? Dần dần đi vào chi tiết các sự kiện. Tất nhiên bài làm phong phú, súc tích thì kết quả sẽ cao. Qua những kì thi tốt nghiệp và ĐH gần đây, nhiều thí sinh làm bài rất sơ sài, do đó điểm thi thường rất thấp.

Để thuộc bài còn phải kết hợp nhiều phương pháp học tập khác nhau như làm đề cương, thảo luận tập thể, ghi chép nhiều lần, kiểm tra kiến thức thông qua học nhóm, học tổ. Việc ôn tập phải được tiến hành thường xuyên, lặp đi lặp lại, “văn ôn, võ luyện” là thế. Kiến thức Lịch Sử nếu không thường xuyên nhắc đi nhắc lại thì sẽ quên ngay, trở lại số không.

Khi làm bài cần đọc kĩ đề bài. Đề thi tốt nghiệp tuy không khó nhưng có phân hóa. Do đó khi nhận đề thi cần xem qua. Câu nào dễ làm trước, khó làm sau, trả lời thẳng vào vấn đề, không vòng vo tam quốc. Hình thức bài làm cũng rất quan trọng. Chữ viết phải sạch sẽ, ít sai lỗi chính tả. Bài làm tránh viết lan man, dài dòng, viết theo cảm hứng. Lịch Sử là môn khoa học, đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối cả số liệu và nhận định. Sở dĩ điểm Sử trong các kì thi tốt nghiệp và ĐH, CĐ thấp là vì thế.

Những kiến thức cơ bản ôn thi tốt nghiệp môn Lịch sử

Để làm tốt môn thi Lịch sử cần phải học đều các bài lịch sử Thế giới và Việt Nam chương trình lớp 12, tuy nhiên cần tập trung vào những nội dung sau đây( trên cơ sở giảm tải của Bộ và kinh nghiệm giảng dạy lâu năm của tôi)

Phần Lịch sử thế giới:

Bài Sự hình thành trật tự thế giới mới. Kiến thức cơ ban là Hội nghị Yanta và Liên Hợp Quốc.

Bài Liên Xô, Đông Âu, Liên bang Nga. Kiến thức cơ bản là Liên Xô từ 1945 đến nửa đầu những năm 70, Liên bang Nga từ 1991-2000.

Bài Các nước Đông Bắc Á. Nên chú trọng Trung Quốc từ 1945-1959, 1978-2000.

Bài các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, cần chú trọng cuộc đấu tranh giành độc lập, Lào và Campuchia, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, chính sách kinh tế hướng nội và hướng ngoại của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN, Ấn Độ đấu tranh giành độc lập từ 1945-1950.

Bài Châu Phi và Mĩ Latinh, nên chú trọng khái quát cuộc đấu tranh giành độc lập châu Phi và Mĩ la tinh.

Bài Nước Mĩ nên chú trọng giai đoạn 1945-1973, 1991- 2000, tình hình kinh tế, chính sách đối ngoại.

Bài Tây Âu, nêu tình hình kinh tế, chính sách đối ngoại các thời kì, Liên minh châu Âu.

Bài Nhật Bản, nêu những cải cách sau chiến tranh, sự “thần kì” kinh tế những năm 60, chính sách đối ngoại qua các thời kì.

Bài Quan hệ quốc tế, nắm được mâu thuẫn Đông Tây và khởi đầu chiến tranh lạnh 1945-1955, xu thế hòa hoãn từ đầu những năm 70 và chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới sau chiến tranh lạnh.

Bài Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, cần nắm được nguồn gốc, đặc điểm, tác động của cách mạng KHCN, biểu hiện và vai trò của toàn cầu hóa.

Phần Lịch Sử Việt Nam từ 1919-2000

Bài phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925 cần nắm được hoạt động của tư sản, tiểu tư sản và Nguyễn Ái Quốc

Bài Phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930, chú trọng Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, Việt Nam Quốc dân đảng và khởi nghĩa Yên Bái, sự ra đời các tổ chức cộng sản, Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, ý nghĩa sự thành lập Đảng.

Bài Phong trào cách mạng 1930-1935, cần chú trọng diễn biến, kết quả, ý nghĩa phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh, Luận cương Chính trị tháng 10.1930.

Bài Phong trào dân chủ 1936-1939, nắm được hoàn cảnh, mục tiêu nhiệm vụ, hình thức đấu tranh, diễn biến, kết quả ý nghĩa phong trào dân chủ.

Bài Phong trào giải phóng dân tộc1939-1945, cần nắm được tình hình Việt Nam trong chiến tranh, chủ trương chuyển hướng qua các Hội nghị TƯ, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa, cao trào kháng Nhật và Tổng khởi nghĩa, sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử.

Bài Việt Nam từ 2.9.45 đến 19.12.46 cần nắm được tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng 8, công cuộc xây dựng nền móng chế độ mới, sách lược đối phó với Trung Hoa quốc dân Đảng, thực dân Pháp và tay sai.

Bài Những năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc 1946-1950, cần làm rõ nguyên nhân, đường lối kháng chiến,chiến dịch Việt Bắc, chiến dịch Biên giới.

Bài Bước phát triển của kháng chiến1951-1953, chú trọng Đại hội lần 2 của Đảng.

Bài Kháng chiến thắng lợi 1953-1954, nắm được cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, nội dung,ý nghĩa Hiệp định Gio-ne-vơ, nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Pháp.

Bài Cách mạng hai miền 1954-1965, nên chú trọng tình hình và nhiệm vụ cách mạng hai miền sau 1954, cải cách ruộng đất, Đại hội Đảng lần thứ 3 và kế hoạch 5 năm 1961-1965 ở miền Bắc, phong trào Đồng khởi ở miền Nam, âm mưu thủ đoạn của “ Chiến tranh đặc biệt” và thắng lợi của miền Nam 1961-1965.

Bài Cả nước kháng chiến chống Mĩ 1965-1973, cần nắm âm mưu thủ đoạn
của “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”, thắng lợi của miền Nam đập tan 2 chiến lược chiến tranh của Mĩ, âm mưu thủ đoạn bắn phá miền Bắc của Mĩ, miền Bắc đập tan 2 cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ đỉnh cao là trận “Điện Biên Phủ trên không”, nội dung ý nghĩa Hiệp định Pa ri.

Bài Kháng chiến thắng lợi 1973-1975, cần nắm nội dung chủ trương, kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam của Đảng, diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Bài Việt Nam năm đầu sau ngày 30.4.1975, chú trọng hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước.

Bài Mười năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1976-1986, lược giản

Bài Trên đường Đổi mới 1986-2000, cần nắm hoàn cảnh, nội dung Đổi mới, thành tựu, hạn chế kế hoạch 5 năm1986-1990.

Bài tổng kết lịch sử thế giới 1945-2000 và lịch sử Việt Nam 1919-2000 chỉ cần nắm các ý chính: nội dung, các giai đoạn, nguyên nhân bài học kinh nghiệm.


PGS,TS Đặng Thanh Toán, Đại học Sư phạm Hà Nội

4/07/2012

Bí quyết học môn Toán để thi tốt nghiệp 2012

Ôn luyện môn Toán cần phải học thật cơ bản, nắm vững kiến thức sách giáo khoa (SGK). Không sử dụng quá nhiều kiến thức từ các tài liệu tham khảo mà ở đó có thể có những điều nằm ngoài chương trình SGK.
Đó là những chia sẻ của Thạc sỹ Toán Phạm Đình Chuẩn, giáo viên Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định), với các bạn thí sinh tham dự các kì thì năm nay.

Với kinh nghiệm của bản thân cộng với nhiểu năm công tác trong nghề, thầy Chuẩn không chỉ chia sẻ với các học sinh (HS) về việc học toán chỉ để thi đạt điểm cao mà cần học toán thế nào để có hiệu quả cao và thi điểm cao đương nhiên là hệ quả của điều đó.

Thạc sỹ Chuẩn cho rằng, người học môn học nào cũng vậy và đặc biệt là việc học toán thì điều đầu tiên cần học thật cơ bản, nắm vững kiến thức SGK kể cả nguời học theo chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, tránh việc học chỉ biết công thức học thuộc định lý một cách máy móc.

Không được xem thường SGK để chỉ thích những bài toán không chính tắc, mẹo mực vì khi đó dễ bị sẽ mất đi một cái nền tư duy logic cần thiết, mất đi sự cân đối trong nếp nghĩ.

Rất nhiều học sinh khi đã học xong chương trình toán phổ thông có thể vẫn chưa hiểu hết các khái niệm của toán học phổ thông, ví dụ như khái niệm hàm số, giới hạn, giới hạn hàm số… và nhiều khái niệm khác.


Nên xây dựng các “bản đồ tư duy” cho các đơn vị kiến thức để có một bức tranh tổng thể về một mảng kiến thức hay một hệ thống các kiến thức của một môn học. Dưa trên bản đồ tư duy đó, HS có thể tự “đắp thịt” vào cái khung xương đó bằng những hiểu biết của mình và bổ sung mỗi lần nghiên cứu lại. Có thể tự xây dựng hệ thống bài tập tương ứng cho mỗi phần.

Không sử dụng quá nhiều kiến thức từ các tài liệu tham khảo mà ở đó có thể có những điều không có trong chương trình SGK (nếu dùng phải hiểu bản chất khái nệm, những kết quả liên quan và chứng minh được chúng - điều này thường dành cho các học sinh khá giỏi).

Đứng trước một bài toán luôn cần đọc kỹ đầu bài để hiểu rõ yêu cầu của bài toán. Chỉ ra được cái gì là cần tìm, thông tin cho trước là gì, tìm mối quan hệ giữa điều cần tìm và điều đã biết để tạo ra những biểu thức, công thức gắn kết chúng với nhau mà người ta thường gọi là phương trình.

Cần rèn luyện kỹ năng tính toán, kỹ năng trình bầy lời giải, tránh làm tắt trong khi trình bầy lời giải các bài toán. Sau khi giải xong một bài toán nên xem lại kỹ (trong quá trình học) một phần là để tìm ra những lỗi có thể mắc, một phần là để tìm hiểu nhũng cách tiếp cận khác của bài toán với những lời giải khác nếu có.

Khi vẽ đồ thị hàm số bậc ba, các em thường tìm cả điểm uốn nhưng không hiểu ý nghĩa của điểm uốn là gì trong khi thực hiện vẽ đồ thị hàm số bậc ba. Bài toán tích phân được đánh giá là bài dễ trong đề thi nhưng khi tính tích phân bằng phương pháp đổi biến các em thường quên đổi cận nên dẫn đến kết quả không đúng.

Nên ôn tập các vấn đề theo hệ thống từ các vấn đề dễ đến khó. Các bài hình học tổng hợp có thể nghĩ cách giải bằng phương pháp vec tơ hoặc tọa độ.

Nguồn: Dân Trí
TAGS: bi quyet thi tot nghiep 2012, bi quyet hoc thi tot nghiep, thi tot nghiep 2012, bi quyet hoc mon toan, 6 mon thi tot nghiep 2012, hoc mon toan 2012.

3/24/2012

Bí quyết học môn Lý của thủ khoa Xây Dựng

Kỳ thi tuyển sinh ĐH năm 2009, Lê Anh Quân đỗ Thủ khoa ĐH Xây dựng với 30 điểm trong đó Lý 10, Hóa 10 và Toán 9,75 (làm tròn thành 10). Để giúp thí sinh đạt điểm cao trong kỳ thi ĐH sắp tới, Lê Anh Quân chia sẻ bí quyết học môn Lý.

Thủ khoa ĐH Xây dựng năm 2009 Lê Anh Quân.

Xin giới thiệu bí quyết học môn Vật lý thủ khoa ĐH Xây dựng Lê Anh Quân tới các thí sinh. Mời các bạn xem tại đây.

Theo Dân Trí
TAGS: bi quyet on thi, mon ly, thi dai hoc 2012, bi quyet on thi mon ly, thu khoa 2009, tuyen sinh 2012

3/20/2012

Bí quyết học môn Hóa của Thủ Khoa Ngoại Thương

Môn Hóa (khối A) là một trong những môn thi ĐH, CĐ “khó nhằn” nhất đối với thí sinh bởi kiến thức trải đều cả 3 năm học. Để giúp thí sinh đạt điểm cao, Thủ khoa ĐH Ngoại thương năm 2009 Lê Minh Thông chia sẻ bí quyết học tập môn Hóa.

Thủ khoa ĐH Ngoại thương năm 2009 Lê Minh Thông.

Thủ khoa Lê Minh Thông chia sẻ: Khi học chúng ta hãy xây dựng một sơ đồ tư duy (cây liên kết các tính chất chung cũng như riêng của các chất) và hãy cố gắng đọc đi đọc lại và làm các bài tập tính toán cho nhuần nhuyễn. Môn Hóa là môn thực hành nên các bạn phải cố gắng đọc và nhớ các tính chất của từng nhóm chức và phải vận dụng trong bài tập. Hóa hữu cơ quan trọng nhất là các tính chất nên các bạn cố gắng học các chuối phản ứng để nhớ được tính chất của chúng. Khi hiểu và thuộc được các tính chất này rồi thì các bài tập trở nên dễ dàng hơn.

Khi cầm đề, các bạn hãy xem qua đề, các đề thi trắc nghiệm đại học có đặc điểm là khoảng 5 -10 câu đầu có thể là dễ nhất trong đề hay cũng có thể là khó nhất trong đề. Vì vậy, các bạn hãy đọc qua trước khi làm đề biết được câu nào dễ mình làm trước, chớ nên thấy đề là làm ngay từ câu đầu đến cuối sẽ vấp phải những câu khó làm mình lan man và mất bình tĩnh, cuống cuồng làm sẽ ra đáp án nhầm và mất rất nhiều thời gian, có khi còn làm mình đánh bừa dù câu rất dễ.

Với những học sinh đã nắm vững kiến thức, mình chỉ khuyên các bạn một điều là hãy đọc kĩ đề bài trước khi làm. Rất nhiều năm, các đề ra đều "đánh lừa" học sinh đó là phần đọc thiếu và lướt qua khi nhận biết các chất và đếm số chất phản ứng mà những câu hỏi này thì các chất thường nằm trên một dòng nhưng cũng đôi khi 1 hoặc 2 chất nằm ở dòng dưới làm cho thí sinh thường hay không để ý và chọn thiếu.

Với những thi sinh chưa thực sự vững kiến thức, trước khi đi thi chúng ta phải đặt ra mục tiêu là phải hoàn thành các phần mình đã vững và nhặt hết điểm các phần đấy, những thì sinh khi cầm đề hãy tìm những phần mình có thể và chắc chắn mình làm được và làm để lấy tự tin làm các câu hỏi khác có thể mình chưa vững. Tự tin cũng giúp bạn nghĩ ra cách hay chọn có phần may mắn hơn.

Về bài tập thì có 2 phần:

Về phần Vô cơ:

Các bạn phải nắm vững kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa (SGK), những kiến thức này rất quan trọng khi ta làm các bài tập lý thuyết. Thông thường thì kiến thức trong đề thi hầu như không ra ngoài SGK. Những phương pháp như thăng bằng electron, các phản ứng oxy hóa - khử, phản ứng được viết dưới dạng ion chúng ta phải nắm vững. Các bài tập về tính toán vô cơ cũng chỉ quanh mấy phương pháp thăng bằng electron, tăng giảm khối lượng, phản ứng oxy hóa - khử nên các ban cố gắng nghiên cứu các phương pháp đó. Khi đọc đề bài, các bạn hãy thoải mái và hãy gắn kết các dữ kiện đầu bài cho, và luôn nhớ cho mình là đề thi đại học ra không mấy khi ra thừa dữ kiện để làm khó cho thí sinh cả, chỉ có hay ra đề bài dài làm cho thí sinh nhìn thấy tưởng khó và bỏ qua đi làm những bài ngắn, mà bài ngắn thì lại có những câu hỏi khó và đòi hỏi phải nhớ và tư duy logic. Với những câu hỏi dài và lắm dữ kiện, các bạn không nên hoang mang là có nên làm hay không và nếu làm có sợ mất thời gian hay không, các bạn hãy bình tĩnh đọc một lần và xâu chuối các dữ kiện đề bài cho ra nháp rồi hãy làm.

Với những câu tính toàn và tìm khối lượng hay là thành phần phần trăm thì các bạn đã có đáp án để thử cũng là cách kiểm tra mình có làm đúng hay không, thông thường các câu về tính toán hay phần trăm thì số đẹp và chúng ta nêu đang phân vân hoặc không làm ra đáp án, hãy thử cũng là một cách làm nhanh. Khi làm các dạng toàn vô cơ thì thường là các phản ứng oxy hóa - khử, nên các bạn hay làm phương pháp thăng bằng electron thật nhuần nhuyễn và khi đi thi ta chỉ cần viết các quá trình cho nhận thì thời gian làm sẽ được rút ngắn hơn rất nhiều. Các bạn không nên dành nhiều thời gian vào 1 câu, ta nhớ rằng số điểm chia đều cho 50 câu.
Với những câu về thể tích, các bạn cũng nhớ rằng có sự thay đổi về thể tích khi trộn các dung dịch vào với nhau. Có rất nhiều trường hợp, thí sinh do không cộng thể tích nên dẫn tới sai kết quả dù câu hỏi rất dễ.

Trong các phản ứng, các bạn nhớ các tính chất của các kim loại chuyển tiếp, tính lưỡng tính của 1 số kim loại,và tính chất tạo phức với NH3 của một số chất để làm các bài tập đỡ bị nhầm hoặc thiếu sẽ dẫn đến kết quả sai.

Phần Hữu cơ:

Phần này cũng có 2 phần nhỏ là lý thuyết và bài tập.

Phần lý thuyết hữu cơ, chúng ta phải đọc trong SGK thật kỹ, trong SGK có những định nghĩa hay những tính chất lý hóa đặc trưng nào các bạn hãy viết và một quyển vở và thỉnh thoảng đọc lại để nhớ. Trong các lần thi khảo sát, có những câu lý thuyết nào mà minh làm sai hãy chép lại, phải trả lời được tại sao mình lại làm sai và khắc phục ngay. Trong phần lý thuyết này, chúng ta phải đọc kỹ các câu vì có những câu hầu như giống nhau hoàn toàn, chỉ khác nhau một hoặc 2 chữ, các bạn phải đọc hết 4 đáp án, chớ có đọc thấy đáp án nào đúng là khoanh luôn sẽ có những trường hợp sai đáng tiếc xảy ra.

Về phần bài tập hóa hữu cơ, thường là đề bài rất dài đề làm cho thí sinh ngại làm, những các bạn yên tâm là cũng như phần vô cơ, các bài tập này chúng ta hãy sắp xếp các dữ kiện lại và rút gọn thì sẽ giải quyết được bài toán.

Các bài tập hữu cơ thường thì tính toán rất đơn giản không như bài tập vô cơ (là những bài tập tính toán khó và các phản ứng oxy hóa - khử nhiều). Bài tập hóa hữu cơ thường là các bài tập về tính chất của các nhóm chức và các chất, mỗi chất, nhóm chức có các phản ứng khác nhau nên thường dựa vào đó để làm.

Về bài tập đồng phân hay công thức cấu tạo, các bạn nên cố gắng viết cho hết công thức ra. Các bạn hãy viết theo thứ tự cho đỡ bị thiếu 1 công thức nào, ví dụ như các bạn hãy viết hết công thức mạch thẳng rồi tới nhánh sau đó vị trí nhóm chức…

Các bạn phải nắm vững các tính chất của các chất hữu cơ mình đã học và phải nhớ các phản ứng đặc trưng của nhóm chất đó để chúng ta nhận biết các chất và giải quyết nhanh các bài tập này.

Có những bài tập nó chỉ cho công thức phân tử và cho các tính chất của chất này các bạn nhớ là không chỉ có các chất hữu cơ mới có công thức phân tử này mà nó cũng có thể là muối của acid hữu cơ với base vô cơ (ví dụ như CH3COONH4 , (NH­4)2C03...).

Với những câu lý thuyết hữu cơ, các bạn đọc và so sánh sự khác nhau giữa các đáp án và chọn ra mệnh đề mình cho là đúng nhất. Thường thì các mệnh đề chỉ ở trong SGK không khó lắm nên các bạn cố gắng đọc và ghi nhớ những câu quan trọng và có khả năng thi.

Sau khi các bạn làm xong các bài tập dễ thì quay lại làm các bài tập khó. Các bài tập khó các bạn hãy phân tích kỹ các dữ liệu của đề bài. Và khi làm xong rồi phải soát đi soát lại thật kỹ những câu mình đã làm cho chắc chắn.

Trên đây là những kinh nghiễm mà mình rút ra được trong các kỳ thi khảo sát cũng như đại học.

Chúc các bạn có một kỳ thi đại học thành công!

Theo Dân Trí
Tags: thu khoa ngoai thuong, bi quyet hoc mon hoa, hoc mon hoa hoc, bi quyet hoc mon hoa hoc cua thu khoa, tuyen sinh 2012, diem thi 2012, thong tin tuyen sinh 2012, tuyen sinh hay lem.

Bí quyết học môn Toán của Thủ Khoa Ngoại Thương 2011

Kỳ thi tuyển sinh vào ĐH Ngoại thương năm 2011, Lê Cao Nguyên đã đỗ thủ khoa với 29 điểm - Toán 9,5; Lý: 9,75, Hóa: 9,75. Trao đổi với PV, Thủ khoa Lê Cao Nguyên chia sẻ bí quyết đạt điểm cao môn Toán.

Thủ khoa ĐH Ngoại thương 2011 Lê Cao Nguyên.

tuyensinhvn.com xin giới thiệu tới thí sinh cách học môn Toán đạt hiệu quả cao của thủ khoa Lê Cao Nguyên: 
A. KHẢO SÁT ĐỒ THỊ HÀM SỐ VÀ CÁC BÀI TOÁN LIÊN QUAN
- Cần ghi nhớ cấu trúc lời giải của ba dạng hàm số sau:
Y=ax3+bx2+cx+d (a #0)
Y=ax4+bx2+c(a#0)
Y=( ax + b)/ (cx + d) (c#0; ad-bc #0)
- Lưu ý khi vẽ đồ thị: không được vẽ đồ thị ra ngoài mặt phẳng tọa độ, nét vẽ đồ thị phải trơn, mảnh, rõ, không có chỗ gấp khúc đột ngột, thể hiện được “sự uốn” của đồ thị tại các điểm uốn. Đánh dấu tọa độ của các giao điểm của đồ thị với hai trục tọa độ, các điểm cực đại, cực tiểu, điểm uốn nếu có. Sau đây tôi đề cập ví dụ 2 dạng, các dạng khác, các bạn tự sưu tầm.
A.1 Bài toán cần lưu tâm 1: Đồ thị của hàm số mang dấu giá trị tuyệt đối                                               
         + Phương pháp:
          Bước 1: Xét dấu các biểu thức bên trong dấu giá trị tuyệt đối
          Bước 2: Sử dụng định nghĩa giá trị tuyệt đối, phân tích hàm số đã cho thành các phần không chưa dấu  giá trị tuyệt đối
         Bước 3: Vẽ đồ thị từng phần rồi ghép lại (vẽ chung trên một trục tọa độ)
Bước 2: từ đồ thị y =f(x) ta có thể suy ra đồ thị y= /f(x)/ như sau:
Giữ nguyên phần đồ thị y= f(x) nằm phía trên trục Ox
Lây đối xứng qua Ox phần đồ thị y= f(x) nằm phía dưới Ox
Bỏ phần đồ thị y= f(x) ta được đồ thị hàm số y=/f(x)/
A.2 Bài toán cần lưu tâm 2: Sự tương giao giữa hai đồ thị f(x) và g(x)
Phương pháp: Thiết lập phương trình hoành độ giao điểm của đồ thị hai hàm số đã cho
f(x)=g(x)
Khảo sát nghiệm số của phương trình trên, số nghiệm này chính là số giao điểm của hai đồ thị
Các dạng khác bao gồm:
- Tiếp tuyến với đường cong
- Tiếp tuyến song song hoặc vuông góc với một đường thẳng cho trước
- Viết phương trình tiếp tuyến biết tiếp tuyến đi qua điểm A(x;y) cho trước.
- Biện luận số nghiệm của phương trình bằng đồ thị
- Tìm các điểm đặc biệt trên đồ thị hàm số
- Các bài toán về sự đối xứng
- Các bài toán liên quan đếm cực trị của hàm bậc 3…
B.LƯỢNG GIÁC
B.1 Kiến thức cơ bản:
- Bắt buộc phải sử dụng thành tạo đường tròn lượng giác, ghi nhớ để chuyển đổi các giá trị lượng giác đặc biệt, học hiểu và nhớ tất cả các hàm số lượng giác của các góc liên quan đặc biệt
- Ghi nhớ các hệ thức cơ bản trong sách giáo khoa
B.2 Phương trình lượng giác: phương pháp
Bước 1: Tìm điều kiện của ẩn số để hai vế phương trình có nghĩa
Bước 2: Sử dụng các phép biến đổi tương đương để biến đổi về một phương trình cơ bản đã biết cách giải hoặc phương trình có thể đặt ẩn phụ.
Bước 3: Giải phương trình và chọn nghiệm phù hợp
Bước 4: kết luận.
Lưu ý: dạng phương trình có chứa tham số thì sử dụng phương pháp sau:
- Chọn ẩn phụ và tìm điều kiện cho ẩn phụ
- Chuyển phương trình về phương trình đại số
- Lập luận để chuyển bài toán về bài toán theo ẩn phụ
- Sử dụng phương pháp giải tích hoặc đại số để tìm tham số theo yêu cầu bái toán.
C. GIẢI TÍCH TỔ HỢP
Cần đọc kĩ sách giáo khoa và làm bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập để có cái nhìn cơ bản về chuyên đề này. Sau đó tìm thêm các bài tập trong sách chuyên đề, trên mạng để nâng cao tư duy.Phải nhơ được kiến thức về giai thừa,qui tắc cộng,qui tắc nhân,hoán vị,nhị thức Niu tơn.
Lưu ý: Các bài toán về giải tích tổ hợp thường là những bài tập về những hành động như lập các số từ các số đã cho, sắp xếp 1 số người hay đồ vật vào những vị trí nhất định, lập các nhóm người hay đồ vật thỏa mãn một số điều kiện đã cho.
- Nếu những hành động này gồm nhiều giai đoạn thì cần tìm số cách chọn cho mỗi giai đoạn rồi áp dung qui tắc nhân
- Nếu bài toán thay đổi kết quả nếu ta thay đổi vị trí của các phần tử thì chắc chắn liên quan đến hoán vị và chỉnh hợp,
- Đối với những bài toán mà kết quả giữ nguyên khi ta thay đổi vị trí của các phần tử thì chắc chắn là bài toán tổ hợp.
D. TÍCH PHÂN VÀ CÁC ỨNG DỤNG
Trong phần này, các bạn cần chú ý đến các công cụ sau:
-  Phương pháp tính tích phân dựa vào định nghĩa và các tính chất
-  Phương pháp tính tích phân đổi biến số
-  Phương pháp vi phân
-  Phương pháp tích phân từng phần áp dụng khi trong biểu thức cần tính xuất hiện 2 loại hàm số khác nhau về thể loại, ví dụ 1 hàm lượng giác, 1 hàm đại số, hàm số mũ,…
- Chú ý đến tính chẵn,lẻ của hàm số khi tính tích phân
- Cách cuối cùng cần lưu ý là việc đặt biến số mới  t= a+b –x trong đó a,b là 2 cận.
E. ỨNG DỤNG CỦA ĐẠO HÀM
Ghi nhớ tính đơn điệu của hàm số, điều kiện cần và đủ của tính đơn điệu, phương pháp xét chiều biến thiên của hàm số. Qua đó phải biết ứng dụng tính đơn điệu của hàm số để chứng mình bất đẳng thức, giải phương trình, bất phương trình, hệ bất phương trình. Ghi nhớ định lý Fermat tìm điều cần và đủ của cực trị, biết làm các bài toán giá trị lớn nhất nhỏ nhất của hàm số.
Lưu ý: các phương pháp tìm GTLN và GTNN của hàm số:
- Sử dụng bất đẳng thức
- Sử dụng điều kiện có nghiệm của phương trình hoặc hệ phương trình
- Sử dụng đạo hàm, lập bảng biến thiên của hàm số trên D rồi suy ra kết quả.
F. HỆ PHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ
F.1 Hệ gồm 1 phương trình bậc nhất và 1 phương trình bậc 2 hai ẩn
Giải bằng phép thế.
F.2 Hệ phương trình đối xứng
- Hệ đối xứng loại 1: cách giải ta đặt x+y = S ;xy=P  sau đố giải hệ để tìm S,P chọn S,P thỏa mãn S2 .Với S,P tìm được thì x và y sẽ là nghiệm của phương trình
X2-SX+P=0 (định lý Viet đảo)
- Hệ đối xứng loại 2: là hệ khi thay x bởi y thì phương trình này biến thành phương trình kia
Cách giải: trừ vế cho vế hai phương trình và biến đổi về dạng phương trình tích, Kết hợp 1 phương trình tích và 1 phương trình của hệ để suy ra nghiệm của hệ.
F.3 Hệ phương trình đẳng cấp: cách giải kiểm tra xem (x;0) có phải là nghiệm của hệ không, với y#0 ta đặt x=ty , thay vào hệ và giải tìm t,y.Từ 2 phương trình ta khử y để được 1 phương trình chứa t. Giai phương trình tìm t rồi suy ra x và y.
F.4. Các hệ phương trình khác:  các phương pháp có thể áp dụng:
- Đặt ẩn phụ
- Phép cộng và phép thế
- Biến đổi về tích số
G.BẤT ĐẲNG THỨC
Cần chú ý hai bất đẳng thức Côsi và Bunhiacôpxki, biết được các dấu hiệu khi nào dùng bất đẳng thức nào.Phát hiện các dấu hiệu như có các bình phương thì thường phải nghĩ tới Bunhiacopxki, có điều kiện các số dương thì khả năng nghĩ tới Côsi. Cách giải phải đi ngược qui trình thông thường. Đầu tiên phải dự đoán được điểm rơi xảy ra tại đâu, sau đó lồng ghép các số trong bất đẳng thức sao cho khi xảy ra dấu bằng tại đúng điểm rơi đã dự đoán…
Ngoài ra còn rất nhiều chuyên đề nữa như:
- Phương trình, bất phương trình, hệ bất phương trình đại số
- Phương trình bất phương trình có giá trị tuyệt đối
- Phương trình, bất phương trình căn thức                                     
- Hệ siêu việt
-Mũ, Logarit
- Hình giải tích phẳng
- Hình Giải tích không gian

Theo Dân Trí
Tags: bi quyet on thi, bi quyet on thi mon toan, cach hoc thi mon toan, thu khoa toan, thu khoa ngoai thuong, tuyen sinh 2012, thu khoa toan ngoai thuong 2011

3/14/2012

10 điều ghi nhớ khi dự thi ĐH, CĐ 2012

Trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh 2012” đã ghi rõ 10 điều cần ghi nhớ của thí sinh dự thi tuyển sinh ĐH, CĐ chính quy 2012. Thí sinh cần đặc biệt lưu ý.


1.Tìm hiểu tài liệu hướng dẫn và đăng kí dự thi
Đầu tháng 3/2012: Tìm hiểu kĩ Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ; Những thông tin về tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2012 và mua Hồ sơ đăng kí dự thi tại trường THPT hoặc tại Sở GD&ĐT.
Từ 15/3/2012 đến 16/4/2012: khai và nộp hồ sơ đăng kí dự thi + lệ phí tuyển sinh tại trường THPT (thí sinh tự do nộp tại địa điểm do Sở GD&ĐT quy định).
Từ 17/4/2012 đến 23/4/2012: nếu chưa nộp hồ sơ và lệ phí tuyển sinh theo tuyến Sở GD&ĐT thì nộp trực tiếp tại trường sẽ dự thi (không nộp qua bưu điện).
Ghi chú: Thí sinh có nguyện vọng 1 (NV1) học tại trường ĐH, CĐ không tổ chức thi tuyển sinh hoặc hệ CĐ của trường ĐH hoặc trường CĐ thuộc các ĐH phải nộp hồ sơ, lệ phí tuyển sinh và dự thi tại một trường ĐH tổ chức thi có cùng khối thi để lấy kết quả tham gia xét tuyển vào trường có nguyện vọng học (NV1). Khi nộp hồ sơ và lệ phí tuyển sinh những thí sinh này cần đồng thời nộp bản photocopy mặt trước tờ phiếu đăng kí dự thi số 1.
Thí sinh có NV1 học tại trường ĐH, CĐ không tổ chức thi tuyển sinh hoặc hệ CĐ của trường ĐH hoặc trường CĐ thuộc các ĐH, sau khi đã khai mục 2 trong phiếu ĐKDT (không ghi mã ngành, chuyên ngành), cần khai đầy đủ mục 3 (tên trường có nguyện vọng học, kí hiệu trường, khối thi và mã ngành). Mục 3 này không phải là mục ghi NV2. Thí sinh có NV1 học tại trường có tổ chức thi tuyển sinh chỉ khai mục 2 mà không khai mục 3.
2. Nhận Giấy báo dự thi
Tuần đầu tháng 6/2012: nhận Giấy báo dự thi tại nơi đã nộp hồ sơ ĐKDT. Đọc kĩ nội dung Giấy báo dự thi; Nếu phát hiện có sai sót cần thông báo cho Hội đồng tuyển sinh trường điều chỉnh.
3. Làm thủ tục dự thi
8h00 ngày 3/7/2012 (đối với thí sinh thi khối A, A1 và khối V); 8h00 ngày 8/7/2012 (đối với thí sinh thi khối B, C, D, T, N, H, M, R, K); 8h00 ngày 14/7/2012 (đối với thí sinh thi cao đẳng).
Mang theo đến phòng thi: Giấy báo dự thi; Bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương (đối với thí sinh tốt nghiệp từ năm 2011 về trước) hoặc Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời hoặc tương đương (đối với thí sinh tốt nghiệp năm 2012); Chứng minh thư; Giấy chứng nhận sơ tuyển (nếu thi vào các ngành có yêu cầu sơ tuyển).  Điều chỉnh các sai sót trong Giấy báo dự thi. Nếu có sai sót thì yêu cầu cán bộ của trường điều chỉnh, ghi xác nhận và kí tên vào phiếu ĐKDT số 2.  Nghe phổ biến quy chế.
4. Dự thi
Thí sinh phải có mặt tại phòng thi: trước 6h30 ngày 4/7/2012 (đối với thí sinh thi khối A, A1 và khối V), trước 6h30 ngày 9/7/2012 (đối với thí sinh thi khối B, C, D, T, N, H, M, R, K) và trước 6h30’ ngày 15/7/2012 (đối với thí sinh dự thi cao đẳng) để dự thi.
Chú ý: Đến chậm 15 phút sau khi bóc đề thi thì không được dự thi. Chỉ được mang vào phòng thi: bút viết, bút chì, compa, tẩy, thước kẻ, thước tính, máy tính điện tử không có thẻ nhớ và không soạn được văn bản, giấy thấm chưa dùng, giấy nháp (giấy nháp phải xin chữ kí của cán bộ coi thi). Ngoài các vật dụng trên, không được mang bất kì tài liệu, vật dụng nào khác vào khu vực thi và phòng thi. Thí sinh mang tài liệu, vật dụng trái phép vào phòng thi, dù sử dụng hay chưa sử dụng đều bị đình chỉ thi. Thí sinh thi các ngành năng khiếu, sau khi dự thi môn văn hoá, thi tiếp các môn năng khiếu theo lịch thi của trường.
5. Lịch thi tuyển sinh





6. Thời gian làm bài các môn:

- Tự luận là 180 phút; Các môn trắc nghiệm là 90 phút.

7. Nhận kết quả thi và kết quả xét tuyển đợt 1
Trước ngày 20/8/2012: các trường công bố kết quả thi và điểm trúng tuyển trên mạng internet và trên các báo, đài.
Trước ngày 25/8/2012: thí sinh đến nơi đã nộp hồ sơ đăng kí dự thi để: Nhận Giấy báo trúng tuyển đợt 1. Nhận Giấy chứng nhận kết quả thi (nếu không trúng tuyển đợt 1 nhưng có kết quả thi bằng hoặc cao hơn điểm sàn cao đẳng). Nhận Phiếu báo điểm (nếu kết quả thi thấp hơn điểm sàn cao đẳng).
8. Tham gia đăng kí xét tuyển
Sau khi xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển nhập học đối với thí sinh đăng ký dự thi vào trường, nếu còn chỉ tiêu, các trường thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của trường, trang thông tin điện tử tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các phương tiện thông tin đại chúng khác điều kiện xét tuyển: thời gian nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển mỗi đợt; thời gian công bố điểm trúng tuyển và danh sách thí sinh trúng tuyển; chỉ tiêu cần tuyển; ngành và khối xét tuyển; mức điểm nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển; vùng tuyển; ...
- Hồ sơ đăng kí xét tuyển nộp cho trường theo đường bưu điện chuyển phát nhanh, chuyển phát ưu tiên hoặc nộp trực tiếp tại các trường (Hồ sơ gồm: Giấy chứng nhận kết quả thi có đóng dấu đỏ của trường + lệ phí xét tuyển + một phong bì đã dán sẵn tem và ghi rõ địa chỉ liên lạc của thí sinh).
- Thí sinh đã dự thi ngành năng khiếu, nếu môn văn hoá thi theo đề thi chung, được tham gia xét tuyển vào chính ngành đó của các trường có nhu cầu xét tuyển, trong vùng tuyển của trường.
Hàng năm, chậm nhất là ngày 30/11 các trường kết thúc thời hạn xét tuyển và chậm nhất là ngày 31/12 phải báo cáo về Bộ GD&ĐT kết quả tuyển sinh, kết quả thực hiện chỉ tiêu của năm.
9. Phúc khảo và khiếu nại
Nếu thấy kết quả thi các môn văn hoá không tương xứng với bài làm và đáp án, thang điểm đã công bố công khai, thí sinh nộp đơn phúc khảo kèm theo lệ phí cho trường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày trường công bố điểm thi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn nhận đơn phúc khảo, các trường công bố kết quả phúc khảo cho thí sinh. Mọi thắc mắc và đơn thư khiếu nại, tố cáo của thí sinh liên quan đến tuyển sinh ĐH, CĐ đều gửi trực tiếp cho các trường và do các trường xử lí theo thẩm quyền.
10. Nhập học
Thí sinh trúng tuyển phải đến nhập học theo đúng yêu cầu ghi trong Giấy triệu tập trúng tuyển của trường. Đến chậm 15 ngày trở lên (kể từ ngày ghi trong giấy triệu tập trúng tuyển), nếu không có lí do chính đáng, coi như bỏ học. Đến chậm do ốm đau, tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện quận, huyện trở lên hoặc do thiên tai có xác nhận của UBND quận, huyện trở lên, được xem xét vào học hoặc bảo lưu sang năm sau. Khi đến nhập học cần mang theo: Học bạ; Bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương (nếu tốt nghiệp trước năm 2011) hoặc Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời hoặc tương đương (nếu tốt nghiệp năm 2012); Giấy triệu tập trúng tuyển.
Học sinh đạt giải quốc tế lưu ý:
Trước ngày 20/6/2012, thí sinh trong đội tuyển Olympic quốc tế và thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia nộp hồ sơ đăng kí tuyển thẳng vào các trường ĐH và lệ phí xét tuyển; Thí sinh đoạt giải khuyến khích trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia nộp hồ sơ đăng ký tuyển thẳng vào các trường cao đẳng và lệ phí xét tuyển. Các trường ĐH, CĐ sẽ công bố kết quả tuyển thẳng trên mạng internet và thông báo kết quả trước 30/6/2011. Học sinh đạt giải quốc tế, Học sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia nhưng chưa tốt nghiệp THPT, sẽ được tuyển thẳng vào ĐH vào đúng năm tốt nghiệp THPT.


Nguồn: Dân Trí

6/29/2011

Bí quyết làm tốt bài thi ĐH khối A

Trong số gần 2 triệu hồ sơ đăng ký dự thi ĐH-CĐ năm nay, có đến hơn 1 triệu hồ sơ đăng ký thi khối A (toán, lý, hóa). Từ kinh nghiệm giảng dạy và chấm thi, các giáo viên đã cho thí sinh những lời khuyên bổ ích trước khi bước vào kỳ thi.

Những lỗi cần tránh trong môn toán

Mỗi năm, có hàng triệu thí sinh (TS) làm bài thi môn toán trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ. Thế nhưng số TS đạt điểm tối đa môn này rất ít.

TS thường hay phạm các lỗi sau trong khi làm bài thi: Không đọc kỹ đề và thế sai dữ liệu. Ví dụ, trong câu khảo sát hàm, đề bài yêu cầu thế m = - 1, có nhiều em đã thế m = 1. Dù bài làm hoàn toàn đúng với m = 1 nhưng vẫn bị 0 điểm câu đó. Quên đặt điều kiện để hàm số xác định. Ví dụ, phương trình là vô nghiệm nhưng có TS vẫn nhận x = 2 là nghiệm. Hiểu lạc đề nên đặt vấn đề sai. Ví dụ: Tìm m để phương trình x4 + x2 + m = 0 (1) có đúng 2 nghiệm Î (0, 1).

Các bước giải đề thi môn vật lý
Giải các câu thuộc về giáo khoa trước, lần lượt đến các thứ tự sau: Phần hạt nhân, vi mô, vĩ mô; phần quang lý; mạch dao động, sóng cơ học; dao động điều hòa, con lắc lò xo, con lắc đơn; dòng điện xoay chiều.
TS cần làm bài theo phương pháp: Những bài dễ, bài có thời gian giải ngắn và những bài có công thức thuộc về dạng đó thì giải trước. Những bài lạ và có tính chất tự luận, nếu dư thời gian thì mới giải. Những bài lập phương trình dao động điều hòa, lập phương trình sóng hay tổng hợp dao động thì nên xem các phương án trả lời để có thời gian giải nhanh nhất.
TRẦN NGUYÊN TƯỜNG
Giảng viên khoa Vật lý - vật lý kỹ thuật, trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM)
Đặt t = x2³0 ; (1) thành
t2 + t + m = 0 (2)

Phương trình (1) có đúng 2 nghiệm Î (0, 1) chứ không phải phương trình (2). Ta có yêu cầu bài toán Û (2) có đúng 1 nghiệm Î (0,1).
Tính toán vội vàng nên sai ở những khâu trung gian. Ví dụ: x3 - 8 = (x - 2) (x2 + 5x - 7)
Û(x - 2) (x2 + 2x + 4) =
(x - 2) (x2 + 5x - 7)
Û x - 2 = 0 v x2 + 2x + 4 = x2 + 5x - 7
Û x = 2 v 3x = 11
TS không nên bỏ 2 dòng trung gian để khi cần thì có thể kiểm tra lại dễ dàng. Khi giải bất phương trình (hoặc phương trình) quên đặt điều kiện để phép biến đổi là tương đương. 

Ví dụ:
Û x2 + x + 1 = (x - 2)2 là sai vì thiếu điều kiện x32, chính xác hơn là:
Kinh nghiệm làm tốt bài thi khối A, Giáo dục - du học, tuyen sinh 2011, diem thi, de thi, thi sinh, thi dai hoc, giang vien, cham thi

Trong những phương trình (hoặc bất phương trình) lượng giác, vì sử dụng công thức không đúng chỗ nên dẫn đến phương trình mới phức tạp hơn. Trong những bài tích phân, vì đổi biến không phù hợp nên làm không ra và mất thời gian tính toán dài dòng. Khi khảo sát và vẽ đồ thị hàm số, một số TS vì thiếu cẩn thận đã lập bảng biến thiên sai hoặc vẽ đồ thị sai. Ví dụ: y' = - x2 + 5x – 4, TS thường quen với dạng trong khoảng (1, 4) là đạo hàm âm nhưng ở đây đạo hàm dương "x Î(1, 4). TS dễ xác định sai miền giá trị của ẩn phụ nên kết luận sai. Ví dụ: Tìm m để phương trình sau có nghiệm:
thì miền giá trị của t là:
Kinh nghiệm làm tốt bài thi khối A, Giáo dục - du học, tuyen sinh 2011, diem thi, de thi, thi sinh, thi dai hoc, giang vien, cham thi
Đa số TS cho miền giá trị của t là t30 hoặc 0 ≤ t ≤ 4 là sai.
Đừng quá sa đà vào bài toán khó
Vì hóa học là môn thi trắc nghiệm với 50 câu trải rộng chương trình nên TS phải có nhiều kiến thức.
Đề thi thường bao gồm: 5 câu giáo khoa chỉ mang tính cách học thuộc lòng, 10 câu giáo khoa có tính cách suy luận được rút tỉa từ sự tổng hợp các dữ liệu, đó là bài toán nhưng không có con số, 10 câu tính toán đơn giản không quá cầu kỳ. Ở 3 phần này, nếu các em chuẩn bị kỹ càng đã đạt 5 điểm.
25 câu còn lại sẽ quyết định vào các trường ở tốp trên. Phần này TS phải rèn luyện nhiều để có sự nhạy bén và tiết kiệm thời gian để chọn đáp án đúng. Trong phần này có 80% bài toán liên quan đến oxy hóa - khử nên TS cần chú ý đến bảo toàn electron.
Đừng quá sa đà vào các bài toán quá khó vì nếu giải được cũng chỉ được 0,2 điểm cho mỗi câu. TS nên tập trung giải quyết các câu mà mình có khả năng, chỉ cần 30 câu là các em đã có 6 điểm chắc chắn, phần còn lại các em chọn ngẫu nhiên.
Thạc sĩ ĐẶNG VĂN THÀNH
Giảng viên trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM)

TAGS: kinh nghiem, bi quyet lam bai thi,tuyen sinh 2011, diem thi, de thi,dap an de thi dai hoc 2011, dap anm de thi 2011, thi dai hoc, cao dang 2011.

5/29/2011

Để “thêm điểm” cho bài thi tốt nghiệp 2011

Các thầy cô giáo có kinh nghiệm dạy môn sinh học, địa lý, tiếng Anh tiếp tục có những chia sẻ với thí sinh về kinh nghiệm khi làm bài thi, những điểm cần lưu ý khi kỳ thi đã kề cận.


 Học sinh lớp 12 Trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1. TP.HCM ôn thi môn địa lý 

Cô Võ Thị Thu Hà (giáo viên môn địa lý Trường THPT Trần Phú, Hoàn Kiếm, Hà Nội): Môn địa lý: lưu ý kỹ năng thực hành



Chỉ dùng bút chì vẽ đường tròn
Trong bài thi địa lý, duy nhất biểu đồ tròn được vẽ bằng compa và đây là biểu đồ duy nhất được sử dụng bút chì (để vẽ đường tròn). Tất cả các biểu đồ khác học sinh nhất thiết phải vẽ bút mực cùng màu với chữ viết trong bài thi. Nếu không nhớ việc này, các em sẽ bị trừ điểm. Sau khi vẽ biểu đồ phải điền số liệu lên biểu đồ, viết bảng chú thích và tên biểu đồ... Nếu thiếu bất kỳ một trong các chi tiết đó các em sẽ bị mất điểm.
Cô Võ Thị Thu Hà
Nên học hết kiến thức, không học tủ, học lệch, nhưng các em cần chú ý kỹ phần kiến thức vùng kinh tế, bởi theo cấu trúc đề thi có một câu 3 điểm về nội dung này.
Đề thi sẽ có các câu hỏi yêu cầu thực hành. Những câu hỏi này thường chiếm tỉ lệ điểm tương đối cao. Vì thế các em cần có sự chuẩn bị chu đáo để nắm chắc các kỹ năng như khai thác atlat địa lý Việt Nam, xử lý số liệu, vẽ biểu đồ, phân tích bảng số liệu thống kê... Có dạng biểu đồ cơ bản các em cần nhớ: biểu đồ hình cột, biểu đồ đường (hay còn gọi là biểu đồ đồ thị), biểu đồ kết hợp, biểu đồ tròn và biểu đồ miền. Các em phải xác định đúng mục đích của đề bài để lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp nhất. Ví dụ đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện diễn biến hay tốc độ phát triển... thì chọn vẽ biểu đồ đường.

Nếu yêu cầu so sánh hoặc thể hiện được sự thay đổi... thì vẽ biểu đồ hình cột. Nếu có hai đối tượng thì vẽ biểu đồ cột ghép. Nếu chung đơn vị và các đối tượng có mối quan hệ thì vẽ biểu đồ cột chồng. Còn khi thể hiện cơ cấu nếu số năm bằng hoặc nhỏ hơn 3 thì vẽ biểu đồ hình tròn, nếu số năm bằng hoặc lớn hơn 4 thì vẽ biểu đồ miền, nếu thể hiện cả quy mô và cơ cấu thì vẽ hình tròn và phải tính R...

Các em cần lưu ý nếu vẽ biểu đồ hình cột, cột đầu tiên không bao giờ được trùng với trục tung, còn biểu đồ đường thì điểm đầu tiên phải xuất phát từ trục tung (năm gốc phải nằm tại tọa độ gốc). Ngoài ra, các em cần nắm vững một số công thức để tính toán theo yêu cầu của đề bài và phân tích mối quan hệ địa lý giữa các đối tượng như: năng suất = sản lượng : diện tích, bình quân lương thực/đầu người = sản lượng lương thực : số dân, độ che phủ rừng = Diện tích rừng : diện tích lãnh thổ, sản lượng lương thực = năng suất x diện tích... Để phân tích tốt bảng số liệu thống kê, các em phải đi từ khái quát đến cụ thể.

Năm 2010, thang điểm cho những câu hỏi thực hành môn địa lý chiếm 7 điểm trong tổng số điểm thi của toàn bài. Vì vậy, kỹ năng thực hành là việc học sinh không thể lơ là.

Cô Lê Nguyên Hương (giáo viên dạy môn sinh học Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Nội): Môn sinh học: cẩn thận để tránh “bẫy”

Thời điểm này học sinh không nên sa đà vào ôn từng bài cụ thể nữa mà việc cần làm là hệ thống lại kiến thức. Các em có thể lập sơ đồ kiến thức theo các chủ đề, trong mỗi chủ đề, gạch đầu dòng những ý chính về kiến thức được đề cập. Với cách này, các em có thể hình dung một cách đầy đủ kiến thức cần nắm để bước vào phòng thi. Với sơ đồ như trên, các em cũng sẽ biết ngay phần nào mình còn chưa vững, chưa hiểu để bổ sung, chứ không phải học lan man.
Môn sinh học sẽ có các câu hỏi lý thuyết và bài tập, nhưng ở đề thi tốt nghiệp THPT, các dạng bài tập được hỏi đến sẽ không khó mà rất căn bản. Học sinh chỉ cần ghi nhớ kỹ lý thuyết là có thể giải quyết tốt dạng bài tập này. Ngoài việc học chắc lý thuyết, học sinh cũng nên tham khảo các dạng bài tập cơ bản, cách giải quyết để có thể xử lý nhanh bài tập khi gặp dạng tương tự.

Ở môn sinh học, các em cần thận trọng khi đọc đề để tránh những “bẫy”. Ví dụ có câu người ra đề hỏi “có phải hiện tượng đó không đúng?” thì học sinh do không đọc kỹ đề lại hiểu câu hỏi là “đúng”. Sự nhầm lẫn giữa “đúng” và “không đúng” rất dễ xảy ra khi học sinh không có tâm thế bình tĩnh khi bước vào phòng thi. Trong thi trắc nghiệm, có câu hỏi dài hay ngắn nhưng thời gian chia cho mỗi câu tương đương nhau, nên nếu các em không biết cách phân bố thời gian sẽ không thể điền hết phương án trả lời cho tất cả các câu hỏi.

Cô Lê Phương Hạnh (giáo viên tiếng Anh Trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội): Môn tiếng Anh: ghi nhớ dạng cấu trúc câu

Môn tiếng Anh không giống các môn thi khác là có thể phán đoán, khoanh vùng kiến thức cần thiết, vì thế không có cách nào khác học sinh phải học hết. Thời gian cuối trước kỳ thi, các em cần rà lại kiến thức, bám sát sách giáo khoa lớp 12, trong đó ghi nhớ các dạng cấu trúc câu, từ vựng. Với ngoại ngữ nói chung và môn tiếng Anh nói riêng, không có sự phân định rạch ròi đâu là kiến thức lớp 10, 11 và 12, bởi có sự liên quan, nâng cao dần. Các em nên dành thời gian nhất định để tham khảo một số dạng đề thi tiếng Anh, các dạng câu hỏi.

Ví dụ có câu hỏi đọc và điền từ (kiểm tra từ vựng), có câu đọc hiểu, có dạng câu hỏi, yêu cầu trả lời hoặc nhận định câu đúng sai (kiểm tra về cấu trúc câu, ngữ pháp). Các em nên đọc hết đề thi, làm nhanh những câu mình thật chắc chắn. Sau khi “tua” một lượt đầu, các em quay lại “tua” tiếp lượt hai để giải quyết các câu mình cần dành thời gian nhiều hơn để suy nghĩ. Với những câu “không chắc chắn”, các em có thể lựa chọn theo phán đoán. Kinh nghiệm phán đoán trong môn ngoại ngữ nhiều khi cả học sinh khá giỏi cũng phải sử dụng. Ví dụ chọn cấu trúc nghe quen tai, lựa chọn dựa vào các cấu trúc gốc mà mình đã ghi nhớ...

Với đề thi tốt nghiệp môn tiếng Anh, học sinh học lực trung bình nếu ôn tập thật kỹ từ vựng và cấu trúc cơ bản có trong chương trình cũng đã đạt ít nhất 5-6 điểm.


Nguồn: Tuổi Trẻ
TAGS: diem thi 2011, thong tin tuyen sinh 2011, them diem thi, bai thi, tot nghiep 2011, xem diem thi tot nghiep 2011, deap an de thi tot nghiep 2011, mon toan, mon ngu van, dia ly, sinh hoc, vat ly, tuyen sinh 2011, haylem.net, tin tuyen sinh, diem thi tot nghiep 2011.

4/19/2011

Thủ khoa tiết lộ bí quyết học thi khối A

Tăng Văn Bình, thủ khoa trường ĐH Ngoại thương, người duy nhất đạt điểm tuyệt đối 30/30 trong kỳ thi ĐH năm 2010 tiết lộ bí quyết ôn luyện.

Giải đề - luyện kỹ năng phản xạ

Là một dân chuyên Toán đúng “hiệu”, nhưng Bình đã “vượt mặt” các thí sinh chuyên Hóa và Lý khi giành trọn điểm 10 hai môn này về tay mình. Nói về bí quyết, Bình chia sẻ: Đó là nhờ việc giải đề. Tôi sưu tầm rất nhiều đề từ thầy cô, bạn bè, các anh chị khóa trên hoặc tìm kiếm ở trên mạng. Làm đề giúp tôi rèn luyện được kỹ năng phản xạ nhanh trước mọi đề thi”. Không nhớ chính xác mình đã giải bao nhiều bộ đề thi nhưng “nếu đóng lại chắc cũng gần bằng một cuốn “từ điển”, thủ khoa hóm hỉnh nói.
Mỗi khi giải đề, Bình hẹn giờ làm theo thời gian quy định của đề thi. Những bài đơn giản Bình cố gắng giải một cách nhanh chóng. Có những bài hóc búa đành phải “bó tay”, Bình sẽ đánh dấu lại và nhờ đến sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè.
Những phương pháp, mẹo giải độc đáo hay những chỗ mình còn làm chậm Bình đều ghi vào một quyển vở mà cậu đặt tên là “vở lưu ý” để sau này xem lại. Ngoài ra, trong quá trình giải đề, Bình cũng học cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu nhất nhằm “tạo thiện cảm cho người chấm”.
Trong các đề thi ĐH, bài toán bất đẳng thức được xem là bài “lấy điểm 10”. Đó là dạng toán chứa nhiều xảo thuật và lắt léo. Vì vậy, ngay trong quá trình giải đề, Bình đã tập cho mình cách định hướng đường đi, đưa về dạng quen thuộc, “và cũng không nên mất quá nhiều thời gian cho nó mà tập trung giải những bài toán khác”. Với toán hình học, ngoài việc cần nắm vững các định lý, tính chất, theo thủ khoa cũng cần biết tưởng tượng các hình ra trong đầu.

Ôn thi trắc nghiệm - chú ý cái “ngoài lề”

Đề thi môn trắc nghiệm thường là những điều “nhỏ nhặt” mà trong quá trình học nhiều người đã vô tình bỏ qua. Nó có thể là một ghi chú nhỏ, hay là một bài thí nghiệm, đọc thêm trong SGK. Bởi vậy “khi ôn thi các môn trắc nhiệm cần ghi nhớ những cái “ngoài lề”.
Trong quá trình luyện môn trắc nghiệm, cần biết cách phân dạng bài tập, theo cậu “quan trọng là có bao nhiêu dạng chứ không phải có bao nhiêu bài”. Học thứ tự, xong một dạng, một chương cần phải tổng quát để tìm ra các dạng bài và cách giải chung trong đó.
Với môn Lý cần nắm chắc lý thuyết và các bài tập trong SGK, đặc biệt là sách lớp 12. Tìm kiếm những đề thi hay, nâng cao dần để làm quen với nhiều dạng khác nhau và hiểu sâu hơn vấn đề. Học tự luận rồi mới chuyển sang làm trắc nghiệm để rèn luyện tư duy hệ thống.
Với môn Hóa vất vả hơn một chút khi phải nắm chắc kiến thức của cả 3 SGK, trọng tâm là lớp 11 và 12. Khi ôn cần phân loại các dạng bài và tìm ra cách giải nhanh nhất, có thể là các mẹo vặt như áp dụng định luật bảo toàn, tăng giảm khối lượng, ô xi hóa khử…
Vào tháng nước rút chuẩn bị cho kỳ thi, theo kinh nghiệm của Bình, lúc này không nhất thiết phải giải đề nữa, mà cần tổng hợp kiến thức một cách có hệ thống. Học khái quát và làm bảng kiểm tra kiến thức là cách mà thủ khoa ĐH đã làm.

Vừa học vừa chơi giảm bớt căng thẳng

Giống như bao thí sinh khác trong mùa thi, Bình hết sức lo lắng và đôi khi cảm thấy áp lực. Tuy nhiên, "nghĩ đến mẹ và chị gái, Bình như được tiếp thêm động lực và không cho phép mình được chán nản". Song cũng không nên tạo cho mình một sức ép nặng nề, cậu khuyên các thí sinh vừa học vừa phải biết cách vui chơi, giải trí như nghe nhạc, xem phim, chơi thể thao...

Bình kể, hồi lớp 12 khi ở KTX của trường THPT chuyên Phan Bội Châu (TP. Vinh), mỗi tối đám bạn ở trọ bên ngoài lại vào phòng Bình để cùng nhau học nhóm. Vừa học, vừa nói chuyện, vừa tranh luận. Những bài toán khó được mọi người đưa ra cùng bàn bạc và đóng góp ý kiến. Cách học này không chỉ giúp Bình giảm bớt căng thẳng, mà còn giúp Bình “cóp nhặt” được rất nhiều mẹo giải hay từ các bạn.
Bình nhớ nhất là lần đi chơi của cả lớp về nhà cậu bạn cách thành Vinh 60 km. Đó là sau buổi học ôn thứ 7, khi cậu bạn khoe rằng ở gần nhà mình có mấy chỗ cảnh rất đẹp. Vậy là cả lớp lũ lượt kéo nhau lên xe đi theo cậu về nhà. Cuộc đi chơi đó đã thực sự xua tan mọi mệt mỏi của Bình cũng như bạn bè trước kỳ thi ĐH.

“Chỉ cần các bạn luôn nỗ lực học tập. Biết sắp xếp thời gian, vừa học vừa chơi chắc chắn việc ôn thi ĐH sẽ trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả” thủ khoa tâm sự.

TAGS: tuyen sinh 2011, thi dai hoc 2011, thu khoa, thi sinh, truong dai hoc, bi quyet hoc thi, tuyen sinh khoi A nam 2011, diem thi 2011, thong tin tuyen sinh 2011

4/08/2011

Bí quyết làm tốt bài thi môn Lịch Sử

Chỉ còn ít ngày nữa là các sĩ tử phải trải qua kì thi Tốt nghiệp THPT 2011. Làm thế nào để đạt điểm tốt môn Lịch Sử?  Là một giáo viên Lịch Sử lâu năm ở Đại học và Phổ thông, tôi có một số ý kiến sau đây:


Trước hết phải nắm được đặc trưng khoa học Lịch Sử.

Lịch sử là một môn học thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đây là một môn học rất quan trọng nhằm cung cấp cho người học những hiểu biết về lịch sử dân tộc và các nước trên thế giới, hình thành nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn. Qủa thật không có môn học nào có ưu thế hơn môn Lịch sử về giáo dục nhân cách cho con người.

Tuy nhiên, để làm chủ và nắm vững tri thức Lịch sử không dễ. Khoa học Lịch sử có những đặc điểm sau đây:

- Đó là tính chính xác tuyệt đối. Bài làm sử không thể viết chung chung mà phải có sự kiện, năm tháng, nhận định cụ thể, rõ ràng chính xác. Trong lịch sử, phải, trái, chính, tà là rõ ràng. Viết sai sự kiện, năm tháng, nhận định là không được.

- Lịch sử thế giới và trong nước phát triển từ thấp tới cao theo qui luật tiến hoá của lịch sử loài người. Khi học tập cần tuân thủ qui luật nhận thức, phương pháp luận khoa học Lịch Sử.

- Phải bảo đảm tính Đảng trong khoa học Lịch Sử. Lịch Sử là một khoa học khách quan nhưng trong nhận thức lại mang nhiều yếu tố chủ quan tuỳ thuộc người học. Đối với chúng ta, tính Đảng và tính khoa học là đồng nhất. Cần phải trên cơ sở nắm vững đường lối của Đảng thì nhận thức Lịch Sử mới đúng đắn được.

Thứ hai, phải nắm chắc nội dung cơ bản chương trình môn học lịch sử lớp 12. Bộ Giáo dục và đào tạo đã có sách hướng đẫn ôn thi tốt nghiệp môn Lịch Sử.Đó là kiến thức cơ bản. Chúng ta không học tủ nhưng cần phải có trọng tâm ôn tập. Có thể  gợi ý một số nội dung cần tập trung  sau đây:

Lịch Sử thế giới :

Chuơng I : “Sự hình thành trật tự thế giới mới” cần nắm các nội dung:

-    Hội nghị Ianta.

-    Tổ chức liên hợp quốc.

Chương II :”Liên Xô, Đông Âu, Liên bang Nga”, cần nắm :

- Những thành tựu của Liên Xô từ 1945- đầu những năm 70.

-Liên bang Nga 1991-2000.

 Chương III :”Các nước Á,Phi và Mĩlatinh “ cần tập trung vào :

- Trung Quốc(1946-1959, 1978- 2000)

- Lào, Cămpuchia

- Hiệp hội các nước Đông Nam Á.

- Ấn Độ 1945- 1950.

- Các nước châu Phi và Milatinh( cuộc đấu tranh giành độc lập)

Chương IV:  “Các nước TBCN”, cần chú trọng:

- Nước Mĩ ( chính sách đối ngoại1945-1973).

 - Nhật Bản( 1945-1973).

- Liên minh châu Âu.

Chương V: Quan hệ quốc tế sau chiến tranh cần chú trọng:

- Chiến tranh lạnhvà những biểu hiện của nó.

- Xu thế hoà hoãn ,chấm dứt chiến tranh lạnh.

- Thế giới sau chiến tranh lạnh.

Chương VI : “Cách mạng khoa học và xu thế toàn cầu hoá”, cần nắm được:

- Thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ và tác động của nó.

- Những biểu hiện của toàn cầu hoá và tác động của nó.

Lịch Sử Việt Nam :

 Chương I: Thời kì 1919-1930 cần chú trọng:

-    Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc.

-    Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.

-    Sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

    Chương II: Thời kì 1930-1945 cần chú trọng :

- Phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ-Tĩnh.

- Phong trào dân chủ 1936-1939.

- Phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945 (Hội nghị Trung ương tháng 11/1939, Hội nghị Trung ương VIII, Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám, sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám)

ChươngIII: Thời kì 1945-1954 cần nắm được:

 - Sách lược đối phó với quân Tưởng, quân Pháp năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám.

-  Nguyên nhân và đường lối kháng chiến toàn quốc,

-  Chiến dịch Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên Phủ.

-  Đại hội Đảng lần thứ II.

- Hiệp định Giơnevơ.

- Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chương IV: Thời kì 1954-1975 cần nắm được:

-    Phong trào đồng khởi ở miền Nam 1959-1960.

-    Âm mưu thủ đoạn của “chiến tranh đặc biệt” và thắng lợi của quân dân miền Nam 1961-1965.

-    Âm mưu thủ đoạn của “chiến tranh cục bộ” và thắng lợi của quân dân miền Nam 1965-1967, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968.

-    Âm mưu thủ đoạn của “Việt Nam hoá chiến tranh” và thắng lợi của quân dân miền Nam1969- 1971, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972.

-    Hiệp định Pa ri về Việt Nam

-    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

-    Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    Chương V: Thời kì 1975- 2000 cần chú ý:

    - Việc hoàn thành thống nhất nước nhà về mặt nhà nước.

- Hoàn cảnh, nội dung đường lối đổi mới, thành tựu, hạn chế  của các kế hoạch 5 năm 1986-1990,1991-1995, 1996-2000.

Thứ ba là phương pháp ôn tập. Học phải có phương pháp. Mỗi người có phương pháp học tập riêng nhưng theo tôi cần học khái quát trước, sau đó mới đi vào chi tiết từng bài. Học phải đọc to, diễn cảm, kết hợp ghi chép, học lúc yên tĩnh (về khuya hoặc sáng sớm). Phải thường xuyên ôn tập vì nếu không  kiến thức sẽ quên ngay.

Thứ tư là phương pháp làm bài. Bài làm môn Lịch Sử phải bảo đảm cả về lượng và chất. Lượng ở đây là số trang tối thiểu phải có. Thông thường bài Sử trong 60 phút phải cố gắng viết được 4 đến 6 trang. Chất ở đây là kiến thức phải chính xác, đầy đủ theo yêu cầu của đề bài. Hình thức trình bày phải sạch sẽ, không tẩy xoá, không để các khoảng trắng. Câu văn phải trong sáng dể hiểu, ít sai lỗi chính tả. Bài Sử cũng như bài văn, hết sức hạn chế gạch đầu dòng, trừ một số ngoại lệ như nội dung Hiệp định, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm.

Tóm lại để đạt điểm thi tốt nghiệp môn Lịch Sử cao phải chăm học, học và làm bài phải có phương pháp, trên hết phải yêu thích môn Lịch Sử, bởi vì làm bất cứ việc gì cũng phải có tình cảm. Không yêu thích Lịch Sử thì không thể học tốt môn Lịch Sử được.

Tiến sĩ Đỗ Văn Toán
( Giảng viên khoa Lịch sử ĐHSP Hà Nội, GV Lịch sử trường THPT chuyên ĐHSP)
 Theo: Giáo dục & thời đại
 TAGS: bi quyet lam bi thi mon lich su, on thi mon lich su, tai lieu on thi mon lich su, tuyen sinh 2011, thong tin tuyen sinh 2011, diem thi 2011, thi tot nghiep thpt nam 2011.