Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên tài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên tài. Hiển thị tất cả bài đăng

10/02/2011

Dự đoán các giải Nobel năm 2011 và kết quả

Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển sẽ công bố danh sách những người đoạt giải Nobel vào đầu tháng 10 này. Cuối tháng 9, một số cơ quan thông tấn, tổ chức xã hội trên thế giới đã đưa ra dự đoán của họ về những người có khả năng được trao giải.

Từ năm 1989, hãng thông tấn Thomson Reuters (Mỹ) hàng năm đều đưa ra danh sách dự đoán các chủ nhân giải Nobel về y học, hóa học, vật lý và kinh tế. Những người này được gọi là “Người trúng giải trích dẫn Thomson Reuters” (Thomson Reuters Citation Laureates). Gọi như thế là do khi tiến hành công tác dự đoán, Hãng Thomson Reuters dựa vào tần suất trích dẫn các bài báo của tác giả. Kể từ năm 2002, có 22 vị trong danh sách dự đoán của họ sau đó đã thực sự được Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải.

Vừa qua, Thomson Reuters đã công bố danh sách “Người trúng giải trích dẫn Thomson Reuters”. Dưới đây là 24 người trong danh sách dự đoán này (2011 PREDICTIONS):
Những nhà khoa học có khả năng đoạt Nobel Hóa học năm 2011:

Allen J. Bard (Mỹ)
Martin Karplus (Pháp)
Jean M. J. Fréchet (Mỹ) , Donald A. Tomalia (Mỹ), Fritz Vogtle (Đức).

Những nhà khoa học có khả năng đoạt Nobel Vật lý năm 2011:

• Alain Aspect (Pháp), John F. Clauser (Mỹ), Anton Zeilinger (Áo)
• Sajeev John (Canada), Eli Yablonovitch (Mỹ)
• Hideo Ohno (Nhật)

Những nhà khoa học có khả năng đoạt Nobel Y học 2011:

• Brian J. Druker (Mỹ), Nicholas B. Lydon (Mỹ), Charles L. Sawyers (Mỹ)
• Robert S. Langer (Mỹ), Joseph P. Vacanti (Mỹ),
• Jacques F. A. P. Miller (Úc) , Robert L. Coffman (Mỹ), Timothy R. Mosmann (Mỹ)

Những nhà khoa học có khả năng đoạt Nobel Kinh tế 2011:

• Douglas W. Diamond (Mỹ)
• Anne O. Krueger (Mỹ), Gordon Tullock (Mỹ),
• Jerry A. Hausman (Mỹ), Halbert L. White, Jr. (Mỹ)


---

CẬP NHẬT KẾT QUẢ NOBEL Y HỌC NĂM 2011 (3/10/2011):

Không giống với dự đoán của Thomson Reuters, Viện khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao Giải Nobel Y học năm 2011 cho ba nhà khoa học: Bruce Beutler (Mỹ), Jules Hoffmann (Luxembourg) và Ralph Steinman (Canada) nhờ những nghiên cứu của bộ ba về hệ thống miễn dịch, vào chiều nay (3/10/2011).
Theo quyết định của Ủy ban trao giải, ông Beutler và Hoffmann chia nhau một nửa giải Nobel trong năm nay “nhờ khám phá của họ liên quan đến cơ chế hoạt động của sự miễn dịch bẩm sinh”, còn ông Steinman sở hữu một nửa giải còn lại “nhờ khám phá của ông về tế bào hình cây và vai trò của nó trong sự miễn dịch thích nghi”.
Theo đó, Beutler cùng Hoffmann sẽ chia nhau số tiền thưởng 5 triệu krona Thụy Điển còn 5 triệu còn lại trong tổng số 10 triệu krona (1,46 triệu USD) sẽ thuộc về ông Steinman.
Những người được trao giải sẽ nhận giải thưởng tại một buổi lễ chính thức ở thủ đô Stockholm của Thụy Điển vào ngày 10.12.
Giải Nobel Y khoa thưởng là giải thưởng khai màn cho mùa giải Nobel trong năm. Các giải thưởng thuộc các lĩnh lực khoa học, văn chương và hòa bình được trao tặng lần đầu tiên vào năm 1901 theo ý nguyện của nhà khoa học và doanh nhân Alfred Nobel.

CẬP NHẬT KẾT QUẢ NOBEL VẬT LÝ NĂM 2011 (4/10/2011):

Hai nhà khoa học Mỹ Saul PerlmutterAdam Riess cùng với nhà khoa học Brian Schmidt mang hai quốc tịch Mỹ - Úc đã được trao giải Nobel Vật lý năm 2011 nhờ những nghiên cứu của họ về siêu tân tinh, theo công bố của Hội đồng Nobel vào chiều nay, 4/10/2011.
Theo quyết định của Hội đồng Nobel, một nửa giải Nobel Vật lý sẽ thuộc về Saul Perlmutter, nhà khoa học trong Dự án Vũ trụ học Siêu tân tinh tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley thuộc đại học California.

Một nửa giải còn lại được chia đều cho ông Brian Schmidt thuộc Nhóm Nghiên cứu Siêu tân tinh ở đại học Quốc gia Úc và Adam G. Riess thuộc Nhóm Nghiên cứu Siêu tân tinh thuộc đại học Johns Hopkins và Viện Khoa học Kính viễn vọng Vũ trụ ở Baltimore.

Kết quả đột phá đến vào năm 1998 khi một nhóm nghiên cứu do ông Perlmutter lãnh đạo và một nhóm khác do ông Schmidt đứng đầu với sự hỗ trợ của ông Riess đã đi đến cùng một kết luận gây sửng sốt rằng sự giãn nở của vũ trụ đang tăng nhanh chóng.

“Nếu sự giãn nở tiếp tục tăng tốc, vũ trụ sẽ kết thúc trong băng giá”, thông báo cho biết.

Giải Nobel Vật lý với số tiền thưởng 10 triệu Krona Thụy Điển (1,46 triệu USD) là giải thưởng thứ hai trong số sáu giải Nobel 2011 được công bố trong tháng này.

CẬP NHẬT KẾT QUẢ NOBEL HÓA HỌC NĂM 2011 (5/10/2011):

Nhà khoa học Israel Daniel Shechtman hôm nay đã giành giải thưởng Nobel Hoá học nhờ phát hiện ra cấu trúc giả tinh thể.

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho hay phát hiện của ông Shechtman vào năm 1982 đã thay đổi căn bản cách thức các nhà hoá học xem xét thể rắn.
Trước ngược với những gì các nhà khoa học vẫn tin trước đó rằng các nguyên tử bị nén bên trong các tinh thể theo các cấu trúc đối xứng, ông Shechtman đã chỉ ra rằng các nguyên tử trong một tinh thể có thể bị nén theo một cấu trúc không lặp lại.
Theo Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, phát hiện của ông Shechtman đã giúp lý giải cấu trúc khảm rất lộn xộn của các tinh thể.
Với giải thưởng danh giá này, Tiến sĩ Shechtman, từ Viện Công nghệ Israel, sẽ nhận được số tiền thưởng 1,5 triệu USD.

4/15/2011

Cậu bé 5 tuổi giải được Toán lớp 4 (video)

Video em bé 5 tuổi giải được Toán lớp 4
Nhóm PV Tuổi trẻ Online vừa thực hiện một video clip về cậu bé 5 tuổi Hồ Đắc Minh Phương (ở Bến Tre) mới học mẫu giáo đã có thể giải được những bài toán lớp 4. Không chỉ làm toán giỏi, Minh còn biết đọc rành rẽ.
Mời các bạn xem video dưới đây:

Nguồn: Tuổi Trẻ Online (TTO)

2/03/2011

Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu trước thềm năm mới

Một buổi chiều cuối năm, PGS.Trần Lưu Vân Hiền, mẹ của GS Ngô Bảo Châu đã đồng ý tiếp phóng viên VietNamNet tại căn hộ công vụ Chính phủ cấp ở tòa nhà Vincom, phố Bà Triệu (Hà Nội). Cô vui vẻ khi biết mục đích của phóng viên chỉ muốn có một cuộc trò chuyện nhẹ nhàng. 

Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu
GS Ngô Bảo Châu và mẹ tại Chicago
Năm vừa qua, sự kiện Giải thưởng Fields đã làm xáo trộn không khí gia đình không ưa sự ồn ào như gia đình GS Ngô Bảo Châu, bởi sự quan tâm quá mức của truyền thông trong nước. Rồi sự kiện nhận căn hộ của Chính phủ với những ý kiến trái chiều đã làm cả nhà một phen nữa phải đau đầu.
Cô Hiền cho biết: "Châu thấy mệt mỏi những chuyện như thế lắm, nhưng rồi cũng xác định được quan trọng là mình có thể làm được điều gì đó với quỹ học bổng về khuyến học – khuyến tài và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán trong năm mới này".
Được hỏi mỗi khi gặp áp lực bởi truyền thông, anh Châu có tâm sự với mẹ điều gì không, cô Hiền cho biết: "Châu không nói gì cả". 
Nhưng là người mẹ đã gắn bó với đứa con trai độc nhất bao nhiêu năm, chỉ cần nhìn nét mặt là cô biết anh đang buồn hay vui. Cô Hiền nói anh Châu đã trưởng thành và có nhiều suy nghĩ chín chắn hơn cả mình nên hầu như không can thiệp vào những công việc anh làm, mặc dù cô cũng có điều lo lắng vì đã bao năm anh không sống ở môi trường trong nước.
"Chẳng hạn như sau nhiều lần về nước, Châu nhận thấy rằng cộng đồng Toán học trong nước có nhiều người tâm huyết, muốn làm một cái gì đó vì người khác, ít quan tâm đến tiền bạc; rồi những học sinh trong nước, nhiều em rất ham học, cần có người dẫn đường”. 
Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu
Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
PGS Trần Lưu Vân Hiền chia sẻ thêm: Vấn đề mọi người quan ngại là việc thành lập và điều hành một viện nghiên cứu như vậy sẽ rất phức tạp, vì đó là một mô hìnhmới mẻ ở Việt Nam, nhiều khó khăn sẽ đến kể từ cơ chế , thói quen, nếp suy nghĩ và cả việc đảm bảo có được những người cộng tác đầy tâm huyết, không mảy may vụ lợi...

"Nhưng Châu có vẻ như đã nhìn thấy trước những khó khăn và có niềm tin, rằng đã có những chính sách cởi mở hơn, đã có sự ủng hộ thiết thực để viện có thể sớm hoạt động, đã có những người đã sẵn sàng cùng mình chia sẻ những khó khăn, tâm huyết vì cùng tham gia vào một việc được xem là có ý nghĩa".

 
Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
"Tôi thấy vui vì Châu rất có ý thức đối với các hoạt động cộng đồng, góp được một chút gì đó cho thế hệ trẻ Việt Nam. Năm mới đến, đã xuất hiện các tín hiệu ban đầu tốt đẹp cho những cố gắng đó. Sau nhiều lần về Việt Nam, lắng nghe những câu chuyện của con, tôi hoàn toàn yên tâm về những gì con mình quyết định làm", cô Hiền chia sẻ.

Ngày 27/2 tới, GS Ngô Bảo Châu sẽ về nước cùng một vị khách đặc biệt, đó là Hiệu trưởng ĐH Chicago- ông Robert J. Zimmer. Sự kiện này sẽ là một tín hiệu vui cho giáo dục ĐH Việt Nam, hy vọng sẽ có những hợp tác mới về giáo dục Mỹ- Việt. Dịp này, GS Ngô Bảo Châu sẽ xúc tiến những công việc cụ thể liên quan đến Viện nghiên cứu cao cấp về Toán.
2011 cũng là năm Quỹ học bổng dự kiến mang tên Trí tuệ Việt Nam đi vào hoạt động, sẽ cấp những học bổng đầu tiên cho HS, SV nghèo, giỏi cũng như các nghiên cứu sinh tại Việt Nam. 
Ngoài mục đích khuyến học như ban đầu, quỹ đặc biệt quan tâm trao phần thưởng cho các nhà khoa học trẻ đang làm việc tại Việt Nam, tổ chức một cuộc thi sáng tạo và tổ chức định kỳ những buổi làm việc giữa các nhà khoa học với sinh viên và những người có mong muốn có thêm hiểu biết về các tiến bộ khoa học – kỹ thuật.
Cô Hiền cho biết, thành viên sáng lập của Quỹ học bổng chỉ có các công ty lớn và cá nhân GS Ngô Bảo Châu tham gia, không có "đại gia" nào đứng sau.

Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
Trong lúc cô Hiền vo gạo nấu bữa cơm tối, tôi hỏi: “Mỗi lần về Việt Nam, anh Châu thích ăn món gì mẹ nấu?”. Cô Hiền cười nhẹ nhàng: Châu không thích những món gì quá phức tạp, cầu kỳ hay đi ăn nhà hàng. Châu thích canh cua khoai sọ, rau rút, thịt kho tàu, thích món ăn dân dã ở phố cổ Hà Nội. Có dịp thết đãi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, thay vì chọn nhà hàng sang trọng vì sợ bị làm phiền, anh Châu đã nhờ mẹ nấu món canh cua với rau mùng tơi Ba Vì.
Cuộc trò chuyện cuối năm với cô Hiền tuy nhiều, nhưng lại không thể viết lên báo được, vì biết rằng, gia đình cô cũng như bao gia đình khác, cũng cần có những bí mật riêng để được hưởng cái yên tĩnh quý giá của cuộc sống.
Và có lẽ, lời chúc đầu năm chân thành nhất là chúc gia đình GS Ngô Bảo Châu năm 2011 sẽ có nhiều thời gian và không gian cho riêng mình hơn.
Theo Hương Giang, Việt Nam Nét

9/06/2010

Lê Văn Thiêm - Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam

Lê Văn Thiêm là tiến sĩ toán học đầu tiên của nước ta, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam và Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học.

Công trình toán học đạt trình độ quốc tế

Từ đời nhà Lê, Lương Thế Vinh đã viết Đại thành toán pháp, Vũ Hữu viết Lập thành toán pháp nhằm hệ thống hoá những thành tựu hình học và số học của phương Đông thời ấy. Tuy nhiên, suốt mấy trăm năm sau đó, do không được tiếp xúc với những thành tựu toán học tiên tiến của phương Tây, kiến thức toán học của các cụ đồ nho thật quá sơ sài!

Lê Văn Thiêm - Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam
GS Lê Văn Thiêm (giữa), GS Nguyễn Đình Trí (trái) và GS Lê Dũng Tráng.
Thời thuộc Pháp, một số người Việt Nam ưu tú như Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào... đã sang Pháp học toán cao cấp, rồi trở về nước dạy toán ở bậc trung học và đại học.

Song phải đến Lê Văn Thiêm thì nước ta mới có nhà toán học thực thụ nghĩa là người có công trình nghiên cứu toán học đạt trình độ quốc tế. Ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ A ở Đức (1944), rồi luận án tiến sĩ quốc gia về toán ở Pháp (1948), và cũng là người Việt Nam đầu tiên được mời làm giáo sư toán học và cơ học tại Đại học Zurich (Thuỵ Sĩ, 1949), một trường đại học lớn ở châu Âu, nơi thời trẻ Albert Einstein đã từng theo học.


GS Lê Văn Thiêm là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học. Năm 1970, khi mới thành lập, Viện chỉ có 1 giáo sư, 3 tiến sĩ, 12 cử nhân. Ngày nay, sau 40 năm phát triển, Viện đã có 83 nhà toán học trong đó có 17 giáo sư, 15 phó giáo sư. Các nhà toán học của Viện đã công bố khoảng 2.000 công trình, một số khá lớn trên các tạp chí toán học quốc tế hàng đầu; biên soạn nhiều sách chuyên khảo, trong đó có hàng chục cuốn được in tại các nhà xuất bản khoa học nổi tiếng như Springer-Verlag, World Scientific, Kluwer Academic Publishers, Pitman...

Những thành tựu ấy gắn liền với tên tuổi những người mở đường như Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ và những nhà toán học tài năng lớp sau như: Ngô Việt Trung, Hà Huy Khoái, Phạm Hữu Sách, Trần Đức Vân, Nguyễn Khoa Sơn, Lê Tuấn Hoa, Nguyễn Đình Công, Đinh Thế Lục, Nguyễn Tự Cường, Hoàng Xuân Phú, Hà Huy Bảng, Lê Dũng Mưu, Đỗ Ngọc Diệp, Vũ Ngọc Phát, Ngô Đắc Tân, Đinh Nho Hào, Nguyễn Đông Yên, Nguyễn Việt Dũng...

Lời “tiên tri” của người thầy giáo Pháp

Lê Văn Thiêm sinh ngày 29/3/1918 tại Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trung Lễ là một làng nghèo hiếu học. Dòng họ Lê ở Trung Lễ là một gia tộc danh tiếng, có nhiều người đỗ giải nguyên như Lê Văn Tự, Lê Văn Huân, Lê Thước... Đặc biệt, ông Lê Văn Kỷ, anh cả của Lê Văn Thiêm, là một người kỳ lạ hiếm có. Ông đỗ tiến sĩ nho học năm 1919, nhưng rồi chuyển sang học tiếng Pháp, thi rất nhanh qua nhiều bậc học và cuối cùng tốt nghiệp Trường Y Hà Nội, vào làm việc tại Quy Nhơn.

Lê Văn Thiêm - Tiến sĩ Toán học đầu tiên của Việt Nam
GS Lê Văn Thiêm và Ban Chấp hành Hội Toán học Việt Nam khoá 1. Hoàng Tuỵ (Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký, thứ 3), Nguyễn Thúc Hào (Phó Chủ tịch, thứ 4), Lê Văn Thiêm (Chủ tịch, thứ 5), Nguyễn Cảnh Toàn (Phó Chủ tịch, thứ 6), Nguyễn Đình Trí (Uỷ viên Thường vụ, thứ 7)... (Hàng đầu từ trái sang)
Mồ côi cha từ nhỏ, Lê Văn Thiêm được người anh cả nuôi cho ăn học tại Trường Quốc học Quy Nhơn. Hiệu trưởng trường này là ông Michel Casimir, tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Paris. Ông rất mến phục tài học của cậu học trò nhỏ người An Nam dòng họ Lê, và thường nói trước mọi người bằng tiếng Pháp: “Il ira plus loin que moi!” (Cậu ta sẽ tiến xa hơn tôi!).

Lời “tiên tri” của thầy Michel quả là linh nghiệm. Năm 1937, Lê Văn Thiêm thi đỗ cao đẳng tiểu học (tương đương THCS hiện nay), và chỉ sau ba tháng nghỉ hè, với tư cách thí sinh tự do, ông thi đỗ tú tài phần 1 (thường là phải sau hai năm). Ông ra Hà Nội học tiếp để thi tú tài toàn phần. Do ở Đông Dương thời ấy chưa mở trường đại học khoa học, nên ông đành theo học lớp P.C.B. (Lý - Hoá - Sinh) để chuẩn bị thi vào Trường Y. Năm 1939, ông đỗ thứ nhì P.C.B., do đó, được cấp học bổng sang Pháp du học.


Năm 1941, Lê Văn Thiêm thi đỗ vào École normale supérieure (thường được dịch không chính xác là Đại học Sư phạm) ở phố Ulm, Paris. Đây là một “trường lớn”, tuyển sinh rất khó, học bổng rất cao, đã đào tạo nhiều nhà bác học lừng danh cho nước Pháp. Trong hai năm, ông thi đỗ 5 chứng chỉ (chỉ cần 3 chứng chỉ là xong chương trình cử nhân). Không ra trường dạy học, ông sang Thuỵ Sĩ, làm việc với Nevanlinna (một nhà toán học lớn của thế kỷ 20) về hàm phân hình.


Năm 1943, ông nhận được học bổng sang nghiên cứu toán ở Đức. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ A và đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ B (tiến sĩ habil, tương đương tiến sĩ khoa học) thì vị giáo sư hướng dẫn qua đời. Ông liền trở về Pháp tiếp tục hướng nghiên cứu mà mình đã chọn, rồi bảo vệ luận án tiến sĩ quốc gia Về bài toán ngược phân phối giá trị các hàm phân hình vào năm 1948, khi mới 30 tuổi.


Nhiều năm sau, mùa thu năm 1981, ba nhà khoa học Việt Nam Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ và Nguyễn Văn Đạo sang thăm Mỹ. Một anh thanh niên Mỹ cố tìm gặp GS Thiêm để cảm ơn ông: Chính là nhờ bản luận án tiến sĩ A của ông công bố ở Đức năm 1943 mà giờ đây chàng trai này mới viết được luận án tiến sĩ...

Từ chối lời mời sang Mỹ, trở về nước tham gia kháng chiến

Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia tại Paris, ông sang Thuỵ Sĩ giảng dạy tại Đại học Zurich, nơi Albert Einstein thời trẻ đã từng theo học. Có học vị cao, có điều kiện để phát huy tài năng ở phương Tây, thế nhưng người con dòng họ Lê yêu nước vẫn nhẹ nhàng từ bỏ tất cả để trở về Tổ quốc.

Cuối năm 1949, bằng số tiền dành dụm được sau mấy tháng dạy học, ông mua vé máy bay từ Paris đến Bangkok, sau khi từ chối một lời mời sang Mỹ làm việc với đồng lương hậu hĩnh. Từ Thái Lan, ông lội bộ xuyên rừng qua đất nước Campuchia đang bị quân Pháp chiếm đóng, đến bưng biền Nam Bộ. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Để chuẩn bị cán bộ cho nền đại học cách mạng ở nước ta, ngày 22/1/1950, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên gửi công văn cho Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong đó có đoạn viết:


“Chúng tôi nhận thấy nếu ông Lê Văn Thiêm ra bắc được thì sẽ giúp ích nhiều cho Bộ Giáo dục. Vậy chúng tôi trân trọng đề nghị Phó Thủ tướng quyết định điều động ông Lê Văn Thiêm ra bắc.”


Thế là, nhà toán học 32 tuổi cuốc bộ dọc theo chiều dài đất nước, nhiều đoạn phải vượt Trường Sơn cheo leo dễ bị địch phục kích hoặc bị hổ vồ, ra Tuyên Quang, kịp dự lễ khai giảng Trường Khoa học cơ bản của nước Việt Nam kháng chiến, giữa rừng xanh Chiêm Hoá.


Tạ Quang Bửu và Lê Văn Thiêm là hai nhà toán học thuộc thế hệ đầu tiên của nước ta. Lê Văn Thiêm kém Tạ Quang Bửu 8 tuổi. Cả hai ông đều là dân xứ Nghệ, tình tình giản dị, dễ gần. Năm 1939, khi anh sinh viên Lê Văn Thiêm mới đến Paris thì Tạ Quang Bửu đã trở về nước. Năm 1946, tham gia Phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Tạ Quang Bửu không quên ghé thăm Lê Văn Thiêm. Năm 1948, tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc họp ở Việt Bắc, Tạ Quang Bửu đã giới thiệu vắn tắt về bản luận án tiến sĩ quốc gia mà Lê Văn Thiêm vừa bảo vệ ở Paris.


Năm 1951, từ bưng biền ra tới Việt Bắc, Lê Văn Thiêm tìm đến thăm Tạ Quang Bửu lúc bấy giờ đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.


Trong những năm 1951-1954, tại Khu Học xá trung ương ở ngoại thành Nam Ninh (Trung Quốc), GS Lê Văn Thiêm giữ chức Hiệu trưởng Trường Khoa học cơ bản và Trường Sư phạm cao cấp.


Sau ngày Hà Nội giải phóng, ông làm Giám đốc Trường Đại học Khoa học, rồi Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp.Ông là vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam.
Giáo sư Lê Văn Thiêm sinh ngày 25-3-1918 tại làng Lạc Thiện, xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình trí thức.
Năm 1949, ông đã từ châu Âu về Việt Nam qua đường Thái Lan. Sau đó ông đi bộ từ Nam Bộ ra Việt Bắc, tham gia xây dựng trường đại học đầu tiên ở chiến khu. Cùng các trí thức khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa..., ông đã xây dựng nền móng cho khoa học Việt Nam.
Với sự trợ giúp của GS Hoàng Tụy, ông đã góp phần đưa nền toán học Việt Nam trong thời kỳ 1960-1980 lên một vị trí cao trong khu vực, được cả thế giới biết đến. Tới nay cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trở thành một phần của lịch sử phát triển toán học Việt Nam hiện đại.
Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học, chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam và tổng biên tập đầu tiên của hai tạp chí toán học Việt nam là tạp chí “Acta Mathematica Vietnamica” và “Vietnam Journal of Mathematics”.
Ông cũng là hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Sư phạm Hà Nội (khi đó có tên là Đại học Sư phạm Khoa học) và Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (khi đó có tên là Đại học Khoa học Cơ bản).
tuyensinhvn.Com (Beenet)



8/18/2010

4 nhà Toán học được trao huy chương Fields 2010

Danh sách 4 nhà Toán học được trao huy chương Fields 2010 (Fields Medal 2010) gồm có: Elon Lindenstrauss (Israel), Stanislav Smirnov (Nga), Cedric Villani (Pháp) và Ngô Bảo Châu (Việt Nam & Pháp). [Như vậy, năm nay nước Pháp có tới 2 công dân đoạt Fields Medal]. Dưới đây là đôi nét sơ lược về cuộc đời khoa học của 4 thiên tài này.

1. Cédric Villani (37 tuổi, Pháp)
Bảo vệ luận án tiến sĩ tại: Đại học Lyon (1998)
Người hướng dẫn: Pierre-Louis Lions (Huy chương Fields 1994)
Hiện tại làm việc tại Viện nghiên cứu Henri Poincaré
Giải thưởng: Herbrand Prize (2007), EMS Prize (2008), Fermat Prize (2009)

4 nhà Toán học được trao huy chương Fields 2010
Cédric Villani
Cédric Villani sinh năm 1973 tại Brive-la-Gaillarde, Pháp. Villani theo học Toán tại Đại học Lyon và nhận bằng Tiến sĩ tại đây vào năm 1998 với những nghiên cứu về Phương trình Boltzmann và Lý thuyết động lực. Người hướng dẫn của Villani chính là Giáo sư Pierre-Louis Lions (Huy chương Fields năm 1994).

Lĩnh vực nghiên cứu của Cédric Villani là Phương trình vi phân, Phương trình đạo hàm riêng và Toán Vật lý. Năm 2008, Villani là một trong 10 nhà Toán học nhận giải thưởng EMS của Hội Toán học châu Âu. Một năm sau, anh nhận giải thưởng mang tên nhà Toán học danh tiếng Fermat.

Từ năm 2009, Villani chuyển tới làm việc tại Viện nghiên cứu Toán học Henri Poincaré.


2. Stanislav Smirnov (40 tuổi, Nga)
Bảo vệ luận án tiến sĩ tại: Đại học công nghệ California (1996)
Người hướng dẫn: Nikolai Makarov
Hiện tại là Giáo sư Đại học Geneva
Giải thưởng: Giải thưởng Khoa học của Viện toán Clay (2001), Salem Prize (cùng Oded Schramm, 2001), Giải Rollo Davidson Prize (2002), Giải EMS của Hội Toán học châu Âu (2004).

4 nhà Toán học được trao huy chương Fields 2010
Stanislav Smirnov
Smirnov sinh năm 1970 tại Leningrad, Nga. Anh 2 lần nhận Huy chương Vàng với điểm tuyệt đối Toán quốc tế vào các năm 1986, 1987. Smirnov học Toán tại Đại học Saint Petersburg và nhận bằng Tiến sĩ năm 1996 tại Đại học công nghệ California, dưới sự hướng dẫn của Nikolai Makarov.

Smirnov là một người ưa xê dịch, ông từng làm việc tại Đại học Yale, Viện nghiên cứu Max Planck ở Bonn và Viện nghiên cứu cao cấp Princeton (nơi Ngô Bảo Châu từng làm việc). Năm 1998 ông tới làm việc tại Viện công nghệ Stockholm và từ 2003 trở thành Giáo sư Đại học Geneva.
Lĩnh vực nghiên cứu của Smirnov là Xác suất, Vật lý thống kê, Hệ động lực phức,... Anh nhận giải thưởng Clay khi mới tròn 31 tuổi và là một trong số những người đầu tiên và trẻ nhất có được vinh dự này.



3. Elon Lindenstrauss (40 tuổi, Israel)
Elon Lindenstrauss
Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1999 với đề tài "Entropy properties of dynamical systems" tại Hebrew University in Jerusalem, Israel.
Giáo sư hướng dẫn: Benjamin Weiss.
Từng công tác tại: IAS Princeton, Stanford University, Courant Institute of Mathematical Sciences.
Giải thưởng: European Mathematical Society Prize (2004), Michael Bruno Memorial Award (2008), Erdos Prize, Fermat Prize (2009).

4. Ngô Bảo Châu (38 tuổi, Việt Nam)

Bảo vệ luận án tiến sĩ tại: Đại học Paris-Sud XI (1997)
Người hướng dẫn: Gérard Laumon
Hiện tại làm việc tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, từ tháng 9/2010 là Giáo sư tại Đại học Chicago
Giải thưởng: Giải thưởng khoa học của Viện Toán học Clay (2004), Oberwolfach Prize (2007)


4 nhà Toán học được trao huy chương Fields 2010
Ngo Bao Chau
Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội. Bố anh là GS.TSKH Ngô Huy Cẩn, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Viện Cơ học Việt Nam. Mẹ anh là PGS.TS Trần Lưu Vân Hiền, chuyên ngành Hoá dược.

Ngô Bảo Châu từng là học sinh Trường thực nghiệm Giảng Võ và lớp chuyên Toán trường THCS Trưng Vương, trước khi theo học tại khối THPT chuyên - ĐHKHTN - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tại đây, anh 2 lần liên tiếp giành Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế, trong đó có một Huy chương Vàng với điểm số tối đa. Thành tích này giúp Ngô Bảo Châu giành được học bổng để theo học Đại học Paris 6 nhưng anh quyết định chọn Đại học Sư phạm (École Normale Supérieure).

Năm 2004, Ngô Bảo Châu cùng Gerard Laumon được trao tặng giải thưởng của Viện Toán học Clay. Năm 2005, Ngô Bảo Châu trở thành vị Giáo sư trẻ nhất của Việt Nam. Năm 2008, anh công bố lời giải Bổ đề cơ bản Langlands, được kiểm chứng vào năm 2009 và được tạp chí The Time bình chọn là 1 trong10 phát minh khoa học Thế giới năm 2009.

Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields 2010 - CHÚC MỪNG

Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields 2010 huy chương Fields 2010
Giáo sư Ngô Bảo Châu nhận huy chương Fields từ Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil.
Cả khán phòng ở Hyderabad, Ấn Độ, rộn ràng tiếng vỗ tay khi tên của giáo sư Ngô Bảo Châu được xướng lên là một trong 4 nhà toán học giành giải Fields hôm nay.

Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil trao huy chương Fields - giải thưởng toán học cao quý nhất thế giới - lúc 12:55 hôm nay (giờ Hà Nội). Ngô Bảo Châu là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam giành được giải thưởng danh giá này.
Lễ khai mạc diễn ra trong buổi sáng nay (19/8/2010 từ 9h30-12h30, giờ Ấn Độ) tại thành phố Hyderabad. Ngồi trên hàng ghế ngay gần đầu trong hội trường có gia đình giáo sư Bảo Châu. Mẹ anh, phó giáo sư Trần Lưu Vân Hiền tươi tắn trong bộ áo dài truyền thống Việt Nam. Người cha - giáo sư Ngô Huy Cẩn - trang nghiêm trong bộ vest tối màu.
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, đoạt giải Fields lần này còn có các nhà Toán học: Elon Lindenstrauss (Israel), Stanislav Smirnov (Nga) và Cedric Villani (Pháp). Trái với dự đoán trước đó của nhiều người.


Tường thuật từ Đại hội Toán học Thế giới 2010 (ICM 2010):

Đúng 12h55 giờ Việt Nam, GS Ngô Bảo Châu đã bước lên bục nhận giải thưởng "Nobel Toán học" Fields. Đây là thời khắc lịch sử của Khoa học Việt Nam. Ông đã làm rạng danh đất nước.


13h08: Những người chiến thắng trong cuộc bầu chọn các giải thưởng Nevanlinna, Gauss, Chern nhận phần thưởng từ Tổng thống Shrimati Pratibha Patil.


Chủ nhân giải thưởng giải thưởng Nevanlinna. 

13h00:
Cùng với GS Ngô Bảo Châu, 3 nhà Toán học trẻ khác cũng được trao tặng giải thưởng Fields.


Giáo sư Ngô Bảo Châu bên cạnh 2 người đạt giải khác.

Hình ảnh 3 chủ nhân giải thưởng Fields.







12h55: Giáo sư Ngô Bảo Châu chính thức được xướng tên tại HICC. Ngô Bảo Châu xếp thứ 2 trong danh sách 4 người đoạt giải Fields 2010.


GS Ngô Bảo Châu nhận giải từ Tổng thống Ấn Độ. 

12h50: Một Giáo sư trong Ủy ban bầu chọn giải Fields công bố danh sách những người đoạt giải thưởng danh giá này.

12h45: Chủ tịch Ủy ban bầu chọn giải Fields - Giáo sư László Lovász, Chủ tịch Hội Toán học thế giới phát biểu.


Giáo sư László Lovász đánh giá cao vai trò của Toán học Ấn Độ đối với Toán học thế giới. 


GS Ngô Bảo Châu ngồi ở hàng ghế đầu trong Trung tâm hội nghị HICC. (GS Châu là người ngồi thứ hai từ trái sang)

12h35: Tổng thống Patil và Ủy ban bầu chọn các giải thưởng IMU Awards lên sân khấu chào các đại biểu, chuẩn bị cho màn trao giải Fields,...


Lễ chào cờ trước khi công bố giải Fields.


Hai thành viên Ủy ban bầu chọn giải Fields.


Tổng thống Patil công bố các Giáo sư trong Ủy ban bầu chọn giải.


Các thành viên Ủy ban bầu chọn giải thưởng.
12h25: Các đại biểu yên lặng lắng nghe giai điệu nhạc dân gian Ấn Độ. Sân khấu Trung tâm HICC sẽ là nơi vinh danh những nhà Toán học nào trong phần trao giải Fields?
12h20: Bài phát biểu dài 20 phút của bà Patil đã kết thúc. Các đại biểu được nghe một giai điệu nhạc dân gian truyền thống của Ấn Độ.

12h10:
Máy quay lia tới khu vực gia đình những người nhận giải thưởng IMU Awards. Chúng ta chưa thấy hình ảnh thân phụ và thân mẫu GS Ngô Bảo Châu. GS Châu có nhận được giải Fields hay không vẫn còn là một bí mật.


Gia đình những người nhận giải thưởng IMU Awards. Chúng ta chưa thấy hình ảnh thân phụ và thân mẫu GS Ngô Bảo Châu. GS Châu có nhận được giải Fields hay không vẫn còn là một bí mật.

12h00: Phiên họp toàn thể khai mạc ICM 2010 bắt đầu.

Mở đầu Đại hội, bà Shrimati Pratibha Patil, Tổng thống  Cộng hòa Ấn Độ có bài phát biểu khai mạc, chào đón các nhà Toán học đến Ấn Độ dự ICM 2010. Theo bà Pratibha Patil, Ấn Độ tự hào được trở thành chủ nhà của sự kiện Toán học trọng đại 4 năm mới có một lần này.


Tổng thống Pratibha Patil phát biểu khai mạc Đại hội. 
11h30: Trước ngày khai mạc ICM 2010, Ban tổ chức quyết định lùi lịch làm việc lại 1 giờ. Do đó, buổi họp báo công bố chủ nhân các giải IMU Awards sẽ được lùi lại tới 15h30 (giờ Việt Nam), trong khi Lễ khai mạc ICM 2010 bắt đầu từ lúc 12h.

11h30, các đại biểu tham dự ICM 2010 đã có mặt đông đủ tại hội trường HICC. Hơn 3000 nhà Toán học được thưởng thức các điệu nhạc truyền thống của nước chủ nhà Ấn Độ.


Các nhà Toán học tranh thủ trao đổi trước giờ khai mạc. 


Hội trường HICC được lấp đầy bởi hơn 3000 nhà Toán học.

11h00: Có hơn 3.000 nhà Toán học trên khắp thế giới đã có mặt ở HICC, Ấn Độ để tham dự sự kiện được tổ chức với chu kỳ 4 năm một lần này. Đại hội Toán học thế giới (2010) là kỳ Đại hội thứ 3 được tổ chức tại châu Á.


GS Ngô Bảo Châu ngồi ở hàng ghế đầu trong Trung tâm hội nghị HICC.

Ngô Bảo Châu đoạt huy chương Fields 2010 - Ngo Bao Chau gianh giai thuong Fields 2010 - Ngo Bao Chau Fields Medallist 2010.

Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới

Sau bốn thập kỷ hoạt động nghiên cứu và đào tạo, giáo sư Hà Huy Khoái và viện Toán của ông lần đầu cảm nhận được rõ rệt rằng, dường như đang mở ra một “giai đoạn mới” cho các nhà nghiên cứu ngành toán trong nước, đặc biệt là khi người học trò xuất sắc của ông – Giáo sư Ngô Bảo Châu, trở thành ứng viên số một của giải thưởng Fields danh giá.
Nhân sự kiện này, giáo sư Hà Huy Khoái đã dành thời gian trò chuyện với phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị.
Lý giải “hiện tượng Ngô Bảo Châu”
Được biết, nhiều năm qua giáo sư thường xuyên tham gia giảng dạy đội tuyển Olympic toán của Việt Nam mà trong đó Ngô Bảo Châu là một trong những thành viên. Bây giờ, Ngô Bảo Châu đã là một tên tuổi lớn của toán học Việt Nam và toán học thế giới. Giáo sư lý giải như thế nào về “hiện tượng Ngô Bảo Châu”?
Tôi có dạy một số buổi ở đội tuyển của Ngô Bảo Châu trước khi lên đường đi thi Olympic toán quốc tế khi Châu còn học phổ thông. Đó là một người tài năng xuất chúng, một người đặc biệt kiên trì, có ý chí vô cùng lớn, dám dấn thân, đặt cả sự nghiệp của mình vào toán học. Từ khi làm luận án tiến sĩ đến nay, Ngô Bảo Châu không thay đổi mục tiêu lớn đã đặt ra từ đầu, mặc dù đó là một đề bài vô cùng khó.
Ngô Bảo Châu có một phẩm chất xứng đáng là nhà khoa học: sự tự tin và anh may mắn được làm việc tại một trung tâm toán học lớn, có đủ điều kiện để theo đuổi đam mê toán học. Và chính ở đây, với những yếu tố hội đủ, “xác suất đã xảy ra”! Nếu không hội đủ các yếu tố trên, rất khó có “hiện tượng Ngô Bảo Châu”!
Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới
GS.TSKH Hà Huy Khoái sinh tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1963, ông là sinh viên toán đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1978, ông bảo vệ luận án tiến sĩ và năm 1984 là tiến sĩ khoa học tại viện Toán học, viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Từ năm 2001 – 2007, ông là viện trưởng viện Toán học Việt Nam. Năm 2004, ông được bầu là viện sĩ viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba, là phó chủ tịch hội Toán học Việt Nam, uỷ viên hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, chủ tịch hội đồng Chức danh giáo sư ngành toán (2009 – 2015), uỷ viên hội đồng khoa học ngành toán của quỹ Nafosted.
Giáo sư đánh giá thế nào về giải thưởng Fields danh giá (được ví như giải Nobel dành cho toán học) dành cho các nhà toán học trẻ dưới 40 tuổi mà thời điểm này, Ngô Bảo Châu của chúng ta đã gần như cầm chắc trong tay?
Đến giờ phút này, tôi tin giải thưởng sẽ thuộc về Ngô Bảo Châu. Đây là một vinh dự mà không nhiều quốc gia đạt được. Một đất nước có truyền thống như Đức, cũng chỉ mới một lần. Trung Quốc, là một quốc gia mạnh về toán, cũng chưa từng có. Thế mà Việt Nam có Ngô Bảo Châu dành được, thật không tưởng tượng nổi. Giải thưởng Fields chỉ trao cho các nhà toán học xuất sắc dưới 40 tuổi, đây là độ tuổi người làm khoa học có thể có được những ý tưởng xuất sắc nhất, cách mạng nhất.Tôi nghĩ, 14g ngày 19.8.2010 (giờ Việt Nam) sẽ là thời khắc quan trọng đi vào lịch sử Việt Nam như một điều kỳ diệu.
Xã hội hồi trước coi trọng toán học hơn bây giờ
Thuở viện Toán Việt Nam mới thành lập, có ai nghĩ rằng sẽ có ngày hôm nay, Việt Nam có thể tỏa sáng trên bản đồ toán học thế giới…
Lúc ấy chúng tôi ít nghĩ xa xôi. Chỉ thích toán và làm toán. Xã hội hồi ấy coi trọng toán học hơn bây giờ. Những nhà lãnh đạo như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Giáo dục Tạ Quang Bửu rất quan tâm toán học, coi toán học là nền tảng của mọi khoa học và có khuynh hướng chọn những học sinh giỏi nhất gửi đi nước ngoài học toán. Bây giờ, người học đi sang nhiều ngành nghề khác do xã hội có nhu cầu, nhưng những người giỏi nhất không phải đều học toán mà chỉ có những người say mê toán mới học toán.
Thưa giáo sư, có một sự thật là, những năm qua, ngoài những dịp học sinh của ta đi thi Olympic toán có thành tích cao được nhiều người biết đến, trong khi ngành toán trong nước nói chung có vẻ trầm lắng…
Tôi có lần đã ví toán học cần cho cuộc sống như không khí, nhưng không khí thì trong suốt, ai cũng cần nhưng không ai chịu bỏ tiền làm sách, đó là chưa kể người ta sinh ra đã sống trong không khí nhưng lại phát hiện ra nó rất muộn, dùng nó mà lại không nhận ra nó. Toán học trong đời sống cũng vậy. Ảnh hưởng bề ngoài của toán học đối với xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở trên thế giới, không lớn hơn so với các lĩnh vực bề nổi khác. Số người biết đến Ngô Bảo Châu chắc sẽ ít hơn số người biết đến cầu thủ Lê Công Vinh hay ca sĩ Hồ Ngọc Hà…Đổi lại là chúng tôi được làm việc mình thích, cho nên nếu có “hy sinh” cho toán học thì cũng là sự công bằng. Ai đã đi theo toán học, thì phải từ bỏ giàu sang, quyền lực và sự nổi tiếng. Có thể nói, từ khi bước vào cơ chế thị trường cho đến gần đây, với chủ trương “tự sống”, các ngành khoa học cơ bản trong đó có ngành toán gặp rất nhiều khó khăn. Đây là lĩnh vực cần thiết có sự đầu tư lâu dài. May là một hai năm lại đây, khoa học cơ bản trong đó có ngành toán được xã hội và nhà nước chú ý hơn một chút…
Ngô Bảo Châu và “vận mệnh” ngành toán 10 năm tới
Là người từng giữ cương vị cao nhất ở viện Toán nhiều năm, theo giáo sư, ngoài lương, nhà nước nên có những chính sách nào đủ sức hấp dẫn chất xám từ bên ngoài, giúp ngành toán Việt Nam có thêm nhiều Ngô Bảo Châu trong tương lai?
“Thu hút người tài từ bên ngoài là rất cần, nhưng song song với việc đó, phải tạo điều kiện cho người trong nước phát triển tốt vì đây là lực lượng chủ yếu”.

Hiện đã có những tiến bộ hơn trước như việc thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ, từ chỗ chi dàn trải 50 triệu đồng cho 1 đề tài thực hiện trong 1-2 năm với hàng chục người làm, đến chỗ được phép trả thù lao khá hơn, có tính khích lệ hơn như chủ nhiệm đề tài trong 2 năm được nhận thù lao 17 tháng, mỗi tháng khoảng 12 triệu đồng; người làm nghiên cứu chủ chốt, mỗi tháng được nhận 7 triệu đồng… Đây là một tín hiệu tốt, một cuộc cách mạng. Nếu phát triển theo hướng này, sẽ có những thúc đẩy rõ nét đối với khoa học cơ bản trong nước. Rõ ràng là đồng lương không làm cho nhà khoa học giàu nhưng phải đủ để giúp họ yên tâm làm việc, vì người muốn làm giàu sẽ không chọn làm khoa học.
Hai chữ “giàu - nghèo” là sự chi phối có thật đối với cả người giỏi toán và người mê toán. Việc nhà toán học Ngô Bảo Châu hàng năm vẫn về nước dạy, được trả lương mức cao nhất 5 triệu đồng/tháng, chỉ bằng một ngày lương đi dạy ở nước ngoài, cho thấy đời sống của người làm khoa học trong nước nói chung, trong đó có các nhà toán học, chưa đủ mạnh để tạo nên những “đột biến”, thưa giáo sư?
Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới
GS Ngô Bảo Châu tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) ngày 13.8, trước giờ lên đường sang Ấn Độ dự hội nghị Toán học thế giới. Ảnh: Ngọc Hà
Nghề toán cũng như lĩnh vực khoa học cơ bản nói chung đều nghèo, rất khó khăn cho thế hệ trẻ để họ có thể kiên định đi theo con đường này. Nhất là khi nhìn ra bên ngoài, thấy có nhiều ngành nghề khác dễ giàu hơn… Trong nước thì vậy, với những sinh viên du học nước ngoài, cũng không chỉ ít về nước làm việc mà còn không dám đi theo nghề toán. Tuy nhiên hiện nay, ở viện Toán, có khá nhiều bạn trẻ say mê toán. So với những người trẻ, chưa chắc họ đã thuận lợi hơn vì thế hệ chúng tôi yên tâm say mê toán học hơn họ. So với các khoa toán ở các trường, lực lượng ở viện khoảng 100 người là không nhiều lắm, nhưng là lực lượng chủ chốt trong cộng đồng toán trong nước, có đóng góp đáng kể: có nhiều công trình nghiên cứu, chiếm khoảng 50% số bài đăng trên các tạp chí toán quốc tế có uy tín…
Mỗi năm có khoảng 150 -200 người bảo vệ luận án tiến sĩ toán tại viện. Với nhiều người Việt làm ngành toán ở nước ngoài, hàng năm vẫn về nước tham gia đào tạo, tìm học bổng… nhằm giúp ngành toán trong nước phát triển một cách tự phát, chủ yếu là với nhiệt tình cá nhân. Trong khi đó, nhà nước vẫn chưa có chính sách thu hút nhân tài thực sự hiệu quả. Tôi hy vọng trường hợp Ngô Bảo Châu, anh vẫn đi về đó thôi, vấn đề quan trọng là mở ra một thay đổi đột phá trong chính sách, tạo môi trường nghiên cứu khoa học một cách tự do của nhà nước. Phải nói rằng Ngô Bảo Châu đã làm cho các nhà lãnh đạo nhận ra vấn đề quan trọng về nguồn nhân lực cho các ngành khoa học cơ bản trong nước một cách rõ rệt hơn.
Vậy, nói rõ hơn, “sự kiện Ngô Bảo Châu”, theo giáo sư, sẽ không chỉ là câu chuyện một người Việt Nam trẻ tuổi dành được giải thưởng “Nobel toán học”, mà còn là câu chuyện rất lớn liên quan đến “vận mệnh” của ngành toán thời điểm này?
Để cải thiện tình hình đời sống toán học trong nước, phải nói thẳng là viện Toán không đủ khả năng ngoài việc cố gắng nâng cao chất lượng nghiên cứu, đào tạo và đó là lý do tồn tại của viện 40 năm qua. Nhưng, từ năm 2007, cùng với bộ Giáo dục – đào tạo, viện Toán, hội Toán và một số trường đại học đã xây dựng Chương trình phát triển toán học trong 10 năm (2011 - 2020) với những mục tiêu phát triển toàn diện, đòi hỏi đầu tư tương đối lớn: 800 tỉ đồng. Toán học Việt Nam chưa bao giờ nhận được con số đầu tư cỡ đó. Tôi chưa biết chương trình có được chấp nhận hay không, nhưng khi đệ trình, lần này lần khác vẫn bị phản đối và chưa được thông qua. Nếu được thông qua, toán học sẽ được thúc đẩy phát triển một bước mạnh mẽ và từ đó thúc đẩy các ngành khoa học cơ bản khác phát triển.
Như thế, sự kiện Ngô Bảo Châu có thể coi là một “cú hích”, một may mắn lớn cho ngành toán trong nước. Sự kiện đó có một ý nghĩa rất lớn đối với những người làm toán học trong nước. Có thể chúng ta nhìn thấy được một số điều, nhưng còn có những điều rất lớn nữa chúng ta chưa nhìn thấy. Trong khoa học, vai trò cá nhân rất quan trọng. Tôi cho rằng Ngô Bảo Châu có vai trò này trong việc thay đổi “vận mệnh” ngành toán nước nhà.
Đầu tư cho giáo dục đang bị… hẫng
Trên trường quốc tế, học sinh phổ thông Việt Nam khá vẻ vang với các tấm huy chương vàng, bạc tại các kỳ Olympic toán học; nhưng ở bậc học cao hơn, thì vị thế quốc tế lại kém hơn (may mà tới đây Việt Nam sẽ được nhắc đến nhiều hơn với tên tuổi Ngô Bảo Châu). Tại sao vậy, thưa giáo sư?
Đây không phải là vấn đề của riêng lĩnh vực toán học. Tôi đã từng thử lý giải, tại sao học trò phổ thông giành nhiều đỉnh cao, lên đại học lại kém đi. Có lẽ vì ở bậc phổ thông, các gia đình đầu tư cho con cái rất lớn, tuy nhiên khi con vào đại học, thì việc đầu tư chỉ dừng lại ở chuyện ăn ở chứ không tiếp tục đầu tư cho việc học. Như thế, dẫn đến sự hẫng hụt. Việc đầu tư trở thành việc của nhà nước, chỉ còn nhà nước lo mà lại lo ở mức không thỏa đáng. Trong khi đó, muốn có nền giáo dục đại học ngang tầm quốc tế, phải đầu tư không kém, thậm chí là hơn. Trong giáo dục không thể dùng “gậy tầm vông” để có chất lượng. Mỹ dùng 1.000 USD thì Việt Nam phải 2.000USD, chứ không phải là 100USD, vì hiệu suất làm việc chúng ta kém hơn, trình độ thấp hơn. Thực tế thì đầu tư cho đại học của ta luôn ở mức rất thấp. Sinh viên của ta, nói chung trình độ thấp hơn các nước và càng lên cao trình độ càng thấp so với thế giới. Câu chuyện đầu tư cho giáo dục, do vậy phải là sự tổng thể của các nguồn lực: gia đình, xã hội, nhà nước… Họ trò xuất sắc bậc phổ thông mà ở bậc học cao hơn tiếp tục được đầu tư không thua các nước, thì kết quả cũng không thua các nước.
Tôi có ví von thế này: Một em bé Việt Nam tập gánh từ bé, năm 12 tuổi có thể gánh khỏe hơn một “ông Tây”, nhưng lớn lên nữa thì lại bị “còi”, vậy là gánh thua… Một vấn đề khác, xã hội Việt Nam vốn trọng bằng cấp, nhưng trọng một cách hình thức, ít khi phân biệt bằng cấp của trường này trường kia, tốt nghiệp loại gì, để nhiều người học giỏi ra trường lại thua cả người học kém hơn mình. Điều này khiến sinh viên không chịu nỗ lực để học giỏi. Do vậy, đổ lỗi giáo dục đại học kém chất lượng hoàn toàn do ngành giáo dục hay ông bộ trưởng là bất công. Phải thấy xã hội cũng có trách nhiệm trong việc này. Chừng nào xã hội còn không nhìn vào bằng cấp gắn với tên trường, thì tình trạng trên còn chưa thay đổi.
Nhiều người nói, làm học trò ở Việt Nam thì “mệt”, vì chương trình khó và nặng, nhưng làm học trò ở nước ngoài thì “sướng” , vì chương trình của họ nhẹ hơn, dễ hơn?
Tôi cho rằng học trò Việt Nam “mệt” không phải vì chương trình khó hay nặng mà vì phải học nhồi nhét nhiều thứ vô ích. Phần khác, do chương trình của ta chưa hợp lý, còn “đóng” quá, trong khi chương trình học của người ta được thiết kế có độ mở nhất định, “nặng” với người này nhưng “nhẹ” với người kia, để học sinh hơi non một chút vẫn có thể tiếp thu bài mà học sinh khá giỏi cũng có thể phát triển được.
Không chỉ là chuyện học nhiều, một số bà mẹ còn lo sợ chất lượng dạy chữ, dạy người ở trường nên phải cho con đi học thêm về kỹ năng sống!
Tôi nghĩ ở Việt Nam chuyện dạy chữ, dạy người đã bị phân biệt độc lập, thậm chí đối lập nhau. Sai. Dạy chữ cũng chính là dạy người. Nếu nói dạy chữ rồi mà trò chưa “thành người”, đó là do dạy chữ chưa tốt. Học chữ tốt, chắc chắn thành người tốt. Điều này có thể dẫn chứng vì sao dưới mái trường thực dân, chúng ta có được những nhà khoa học, nhà trí thức lớn như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa…Họ học được trong trường thực dân những kiến thức của nhân loại để từ đó trở thành những nhà khoa học yêu nước chân chính. Kiến thức nhân loại luôn tồn tại khách quan. Ai tiếp thu được nó thì sẽ “thành người”.
Theo Nhị Hà - SGTT

Hướng về ICM 2010, chờ cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên

Ngày mai 19/8, tên những nhà toán học được trao giải thưởng danh giá Fields sẽ được công bố tại lễ khai mạc Đại hội Toán học thế giới (ICM 2010) tại Hyderabad, Ấn Độ. Việt Nam đang chờ đợi cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên... (phiên khai mạc kết thúc lúc 14h15 giờ Việt Nam).
gs ngo bao chau icm 2010
GS Ngô Bảo Châu
Cứ bốn năm một lần, Giải thưởng Fields - giải thưởng được xem như giải Nobel trong lĩnh vực toán học, dành cho những nhà toán học không quá 40 tuổi vào năm trao giải - được trao tại các kì Đại hội Toán học thế giới.
Theo GS.TSKH Trần Văn Nhung, nếu GS Ngô Bảo Châu (sinh năm 1972) vinh danh nhận giải thưởng này thì Việt Nam không chỉ nằm trong Top 10-15 Olympic Toán phổ thông quốc tế mà còn nằm trong Top 11-12 nước của thế giới được nhận Giải thưởng Fields.
Trao đổi với phóng viên, trước khi lên đường sang Ấn Độ dự Đại hội Toán học, GS Ngô Bảo Châu khiêm tốn cho biết: “Các đại hội Toán học thế giới từ trước đến nay, đa số nhà khoa học dưới 40 tuổi được mời báo cáo toàn thể ở Đại hội đều được trao Giải thưởng Fields tại Đại hội đó. Lần này chỉ có hai nhà khoa học, tôi và một người Brazil, dưới 40 tuổi được báo cáo tại phiên toàn thể.
Tôi có báo cáo tổng thể tại đại hội tổng hợp từ hơn 10 báo cáo. Ngoài ra, đại hội còn các báo cáo chuyên ngành. Mỗi ngành có 5 - 7 báo cáo. Đây là những báo cáo rất tốt đánh dấu sự phát triển của mỗi ngành như hình học, đại số... Mỗi người được mời báo cáo tại đại hội, họ rất hãnh diện và làm báo cáo rất tốt, thường các báo cáo từ 10 - 20 trang và nói rất sát chất lượng của từng ngành toán học trong thời gian vừa qua. Qua báo cáo này mọi người nắm rất rõ về sự phát triển toán học.
Nói về công trình “Bổ đề cơ bản”, GS. Ngô Bảo Châu cho biết: “Thực sự những người nghiên cứu toán học vẫn không hiểu nổi tác dụng của “Bổ đề cơ bản”. Vì bản thân “ Bổ đề cơ bản” tương đối kỹ thuật nằm trong chương trình Langland cơ bản toán học của thế kỷ 20. Chương trình vĩ đại, có mục tiêu rõ ràng nhưng khó đến. Hầu hết những phần của chương trình Langland, có rất nhiều công trình phụ thuộc vào “Bổ đề cơ bản” nên “Bổ đề cơ bản” càng càng ngày quan trọng nếu không có nó thì nhiều công trình khác sụp đổ. Có cái hay khi tôi chứng minh “Bổ đề cơ bản”, tôi dùng nhiều bài báo có liên quan đến phần lý thuyết nên một số nhà vật lý rất quan tâm đến Bổ đề này”.
Nếu GS Ngô Bảo Châu được tôn vinh, không có gì là bất ngờ!
Trao đổi với Dân trí, GS.TSKH Lê Tuấn Hoa, Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam vui mừng cho biết: “Giới toán học thế giới ít ai có thể ngờ rằng, “Bổ đề cơ bản” lại được chứng minh một cách chóng vánh như vậy. Đó là một kỳ tích, thành tích vĩ đại của nền Toán học. Bổ đề này không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển Toán học mà còn liên quan đến những ngành khác, đặc biệt là Vật lý lý thuyết”.
ngo bao chau niem tu hao viet nam
Ngô Bảo Châu - niềm tự hào của Việt Nam.
Theo GS. Lê Tuấn Hoa, để thấy tầm quan trọng của Bổ đề cơ bản của Chương trình Langlands, ta chỉ cần nhớ lại sự kiện Andrew Wiles đã chứng minh được Định lí lớn Fermat cách đây 15 năm - một định lí nổi tiếng mà sau hơn 300 năm nghiên cứu của nhiều thế hệ toán học lừng danh trên thế giới mới được giải quyết. Theo một nghĩa nào đó, thành công của Wiles dựa trên việc chứng minh được một trường hợp riêng của Bổ đề cơ bản. Nhờ đó Andrew Wiles đã được trao một Đĩa bạc đặc biệt tại Đại hội Toán học thế giới năm 1998, được xem như Giải thưởng Fields (Giải thưởng Fields chỉ trao cho nhà toán học không quá 40 tuổi, mà khi đó Wiles đã 45 tuổi, nên Liên đoàn toán học trao Đĩa bạc đặc biệt để tránh vi phạm luật).
Dưới tên là “Bổ đề cơ bản”, nhưng đây là một Giả thuyết tức là một dự đoán - do Robert Langlands đưa ra vào những năm 60, và sau đó được diễn đạt dưới dạng tổng quát trong một công trình chung của Robert Langlands và Diana Shelstad vào những năm 70. Do vai trò đặc biệt quan trọng của Bổ đề cơ bản, rất nhiều nhà toán học tài ba đã tập trung sức lực tấn công nó và đã chứng minh được một số trường hợp riêng.
Trường hợp riêng quan trọng nhất lại cũng chính do Bảo Châu cùng thầy hướng dẫn luận án Tiến sĩ của mình là GS. Gerard Laumon chứng minh vào năm 2004. “Chỉ với” kết quả riêng đó, năm 2004 hai nhà toán học này đã được trao một trong những giải thưởng danh giá trong Toán học: Giải thưởng Clay.
Tuy nhiên, để chứng minh trọn vẹn Bổ đề cơ bản thì nhiều người nghĩ rằng phải cần một thời gian dài nữa. Nhưng với Ngô Bảo Châu thì không! Sau công trình đạt Giải thưởng Clay, anh đã mạnh dạn theo đuổi con đường của mình và đã tìm ra chìa khóa để giải nó.
Năm 22 tuổi, khi đó đang du học bên Pháp tại trường đại học danh giá nhất nước Pháp, Ngô Bảo Châu đã “bập” ngay vào đề tài nghiên cứu khó nhất. Đó là là một phần của Chương trình Langlands. Như vậy, mặc dù còn rất trẻ (năm nay GS Ngô Bảo Châu 38 tuổi), nhưng anh đã có 15 năm nghiên cứu vấn đề này. Bằng tài năng xuất chúng của mình, trong thời gian học tập, nghiên cứu, và làm việc cật lực, Ngô Bảo Châu đã đưa ra nhiều ý tưởng mới độc đáo. Anh liên tục làm cho thế giới Toán học ngạc nhiên.
Đỉnh điểm là đầu năm 2008, GS. Châu công bố một chứng minh hoàn chỉnh cho bổ đề cơ bản trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. Lúc đầu công trình “chỉ khoảng” 150 trang. Sau khi lược bỏ bớt những điều không phục vụ trực tiếp cho chứng minh Bổ đề cơ bản và diễn giải chi tiết hơn, công trình dài thành 188 trang! Dù ý tưởng chứng minh rất rành rọt, các nhà Toán học đầu đàn phải mất hơn 1 năm để kiểm chứng các chi tiết của nó!
Đây là một kỳ tích vĩ đại của nền toán học thế giới - GS. Lê Tuấn Hoa khẳng định và không ai nghi ngờ điều đó. Cho nên việc anh được tôn vinh không có gì bất ngờ.
Thế nhưng việc được tạp chí Time đưa vào bình chọn là một trong 10 khám phá khoa học quan trọng nhất của năm 2009 thì quả là ngạc nhiên. Ngạc nhiên bởi vì rất ít khi một công trình Toán học được Time để ý đến! Lần gần đây nhất Time để ý đến Toán học chính là xếp công trình của nhà Toán học Nga Perelman - người được Giải thưởng Fields năm 2006 là thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực khoa học công nghệ năm 2006
Giờ đây, chúng ta hồi hộp mong chờ giây phút GS. Ngô Bảo Châu được trao giải Field vào ngày mai 19/8, như thế, đây sẽ đánh dấu sự kiện lịch sử trong nền Toán học, không chỉ của Việt Nam mà cả trên thế giới.
Dân Trí

8/16/2010

Tinh hoa Toán học Ngô Bảo Châu

Từ trước đến nay một số nhà khoa học Việt Nam, với những thành tựu của mình, đã gây được một số tiếng vang nhất định trong cộng đồng khoa học thế giới. Gần đây, từ đầu thiên niên kỷ 2000, nhiều nhà khoa học Việt Nam, đa số còn trẻ (tuổi trên dưới 40), ở rải rác khắp năm châu, đã tỏa sáng trong lĩnh vực của mình và nhận nhiều giải thưởng khoa học giá trị.

Tuy nhiên chưa một ai thật sáng chói, được xem là tinh hoa trong ngành, và cũng chưa một ai nhận được giải thưởng cao quý nhất, như giải Nobel chẳng hạn. Mãi cho đến những năm gần đây, một nhà khoa học trẻ Việt Nam đã ngày càng tỏa sáng trong lĩnh vực toán học, được xem là một trong những người ưu tú nhất hiện nay trong ngành: Ngô Bảo Châu.


ngo bao chau fields medal
GS. Ngô Bảo Châu

Fields - Nobel toán học

Được mệnh danh là nữ hoàng của khoa học thuần túy, toán hiện diện khắp mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, trong mọi ngành khoa học. Đặc biệt nếu không có toán, thì vật lý và hóa học không thể có những bước đi “khủng” từ hơn một thế kỷ nay. Xuất hiện từ năm 1936, giải thưởng Fields là phần thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán, mà sở hữu chủ là Hiệp hội toán học quốc tế (IMU - International Mathematical Union), một hiệp hội của cộng đồng toán học thế giới. Hai giải Nobel và Fields có vài tương đồng nhưng đồng thời cũng nhiều dị biệt. Hầu như mọi người đều đồng ý đây là hai giải thưởng cao quý nhất trong ngành, vì thế cộng đồng khoa học thường đánh giá Fields là Nobel của toán học.

Ngoài ra, hai giải này chỉ dành cho những người còn sống. Nếu có một nhà khoa học nào đó qua đời, những thành tựu của họ sẽ không bao giờ được xem xét đến dù rất lỗi lạc. Khi nói đến những dị biệt, đầu tiên người ta nghĩ ngay đến giới hạn về tuổi tác của giải Fields: chỉ tặng cho những tài năng trẻ, tuổi dưới 40. Sự kiện này đã gây một số thiệt thòi cho những tài năng nở muộn. Trong khi đó giải Nobel lại không bị giới hạn về tuổi tác. Cảnh tượng những nhà khoa học về chiều nhận Nobel cho những thành tựu từ hàng chục năm trước (mà bây giờ người ta mới thấy được giá trị đích thực của nó) rất thường xảy ra.

Một sự khác biệt quan trọng khác: Nobel được tặng hàng năm trong khi Fields cứ mỗi bốn năm. Vì cứ mỗi bốn năm và chỉ dành cho những nhà toán học trẻ cho nên sự chọn lọc rất gắt gao, và nếu “lỡ chuyến tàu” thì chưa chắc đã có dịp may thứ hai. Để bù lại, giải Fields được cấp cho nhiều người, từ 2 - 4, cho những ngành hoàn toàn khác nhau. Trong khi đó mỗi giải Nobel tối đa chỉ ba người, và cũng chỉ trên một đề tài duy nhất. Ngoài ra về phương diện tài chính, người nhận giải Fields được tặng khoảng 15.000 USD, chỉ khoảng hơn 1% của giải Nobel (khoảng 1,4 triệu USD).

Sự khác biệt lớn lao này không làm giảm giá trị của giải Fields. Trong thực tế, nếu lấy tài chính là thước đo của sự thành đạt, là mục tiêu trong cuộc sống, không ai dấn thân vào lĩnh vực khoa học cả. Niềm tự hào, sự sung sướng của nhà khoa học là thỏa mãn óc tìm tòi, thấy được kết quả của công sức mình, được cống hiến cho khoa học, cho nhân loại những thành tựu của mình. Hào quang khi nhận một vinh dự cao quý nào đó chỉ là hệ luận tất yếu của tài năng khi đạt đến đỉnh cao mà thôi.

Năm nay giải Fields sẽ được công bố vào ngày thứ năm 19/8 tới đây, ngày mở đầu Hội nghị toán học thế giới (ICM - International Congress of Mathematicians) được tổ chức tại Hyderabad (Ấn Độ), từ 19 đến 27/8. ICM là hội nghị lớn nhất thế giới về toán, được tổ chức mỗi bốn năm. Theo tin hành lang, năm nay sẽ có bốn người nhận giải Fields.


ngo bao chau fields medal
GS. Ngô Bảo Châu (bên phải) và gia đình tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) ngày 13/8, trước giờ lên đường sang Ấn Độ dự hội nghị Toán học thế giới.

Hành trình của một tài năng

Sinh năm 1972 tại Hà Nội, xuất thân từ một gia đình khoa học (cha là giáo sư về cơ học chất lỏng tại viện Cơ học Việt Nam, mẹ là phó giáo sư tại bệnh viện Y học cổ truyền trung ương, Việt Nam), Ngô Bảo Châu đã sớm phát huy năng khiếu toán của mình. Anh là học sinh Việt Nam đầu tiên hai lần đoạt huy chương vàng Olympic toán quốc tế, năm 1988 tại Canberra (Úc) với điểm tối đa 42/42 khi học lớp 11 và năm 1989 tại Brunswick (Cộng hòa Liên bang Đức) khi học lớp 12.

Đây là lần đầu mà cũng là lần cuối Ngô Bảo Châu đến thật gần giải Fields, vì 4 năm trước (2006) anh chưa đủ bề dầy cần thiết và bốn năm sau (2014) thì đã quá tứ tuần, vượt quy định về tuổi tác của Fields.
Dù là đứa con duy nhất trong gia đình, tuy nhiên cha mẹ không nuông chiều anh thái quá, tác phong khoa học của gia đình đã rèn luyện tư duy anh ngay từ thuở thiếu thời. Tuổi thơ của anh cũng giống như bao trẻ thơ ngoan khác, ngoài giờ học anh giúp gia đình trong việc nhà, dành nhiều thời gian đọc sách, chơi nhạc hay tham gia cùng bạn bè những trò chơi hữu ích: đá banh, cờ tướng…

Được học bổng của chính phủ Pháp, Châu bắt đầu cuộc đời sinh viên tại Université de Paris VI ở tuổi 18. Năm 1992, Châu đậu vào trường Đại học sư phạm (ENS, Ecole normale supérieure) ở Paris. ENS là lò đào tạo nhiều nhân tài không chỉ riêng cho nước Pháp, một số nhân tài lỗi lạc của Việt Nam như Hoàng Xuân Hãn, Trần Đức Thảo, Lê Văn Thiêm,… cũng xuất thân từ ngôi trường danh tiếng nầy. Châu bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1997 tại Université de Paris XI. Là nhân viên của Trung tâm quốc gia khoa học (CNRS - Centre National de la Recherche Scientifique) tại Université de Paris XIII từ 1998, anh đã bảo vệ Habilitation à diriger des recherches (HDR, tương đương với tiến sĩ khoa học) năm 2003 tại đây.

Vừa xong HDR không bao lâu, đầu năm 2004, khi tuổi chưa đến 32, Châu được hai trường đại học danh tiếng mời làm giáo sư: Université de Paris VI và Université de Paris XI. Vì muốn được làm chung với Gérard Laumon, một viện sĩ và cũng là giáo sư hướng dẫn khi làm luận án tiến sĩ trước đó, Châu trở thành giáo sư ở Paris XI. Cùng năm đó, Gérard Laumon và Châu nhận giải thưởng Clay, một giải thưởng danh giá của viện Toán Clay (Mỹ) nhờ giải quyết một trường hợp đặc biệt của “chương trình Langlands ”. Qua năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam và trở thành vị giáo sư trẻ nhất của Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại.

Năm 2007, anh nhận được giải thưởng của viện Nghiên cứu toán học Oberwolfach (Đức) dành cho các nhà toán học trẻ châu Âu. Cũng từ 2007, anh công tác thêm với viện Nghiên cứu tiên tiến (Institute for Advanced Study) ở đại học Princeton (New Jersey, Mỹ), một đại học hàng đầu của Mỹ. Năm 2008 anh giành giải thưởng Sophie Germain của viện Hàn lâm Pháp về toàn bộ công trình nghiên cứu của mình.

Ứng viên sáng giá giải Fields 2010

Tổng kết tình hình khoa học trong năm 2009, tuần báo Time với lượng xuất bản hàng chục triệu mỗi số - trong số ra ngày 9/12/2009 đã xếp công trình của Ngô Bảo Châu về “Bổ đề cơ bản” (Fundamental Lemma) là một trong 10 khám phá khoa học nổi bật trong năm 2009. Công trình này là cơ sở cho việc xây dựng một lý thuyết toán học theo chương trình Langlands - một chương trình toán học lớn đầy tham vọng và cách mạng nhằm thống nhất hai ngành, thuyết về số (number theory) và thuyết về nhóm (group theory) - của nhà toán học Robert Langlands vào năm 1979.

Sau khi kiểm chứng, cộng đồng toán học thế giới kết luận rằng chứng minh của Châu về “Bổ đề cơ bản” trong trường hợp tổng quát là hoàn toàn chính xác. Việc tìm ra lời giải cho “bài toán 30 năm” này giúp cho giới toán học thở phào nhẹ nhõm, vì trước đó nhiều nhà toán học giỏi chỉ mới giải được những bài toán nhỏ của bổ đề nầy mà thôi.

Bài báo của Time đã đưa tên tuổi Ngô Bảo Châu, vốn đã rất nổi tiếng trong chuyên ngành, đến với quảng đại quần chúng ở khắp năm châu. Và nhờ vào công trình lẫy lừng này anh trở thành một ứng viên rất sáng giá của giải Fields 2010. Theo sự nhận xét của nhiều người, với thành tựu như thế, Châu gần như đương nhiên sẽ được giải, nếu bị trượt mới là chuyện lạ. Và đây là lần đầu mà cũng là lần cuối Ngô Bảo Châu đến thật gần giải Fields, vì 4 năm trước (2006) anh chưa đủ bề dầy cần thiết và bốn năm sau (2014) thì đã quá tứ tuần, vượt quy định về tuổi tác của Fields.

Hiện nay Ngô Bảo Châu đã nhận lời làm giáo sư tại đại học Chicago (Mỹ) từ tháng 9/2010. Anh đã lập gia đình ở tuổi 22 với người bạn gái cùng chuyên toán thời phổ thông, và có ba cô con gái. Gia đình là nơi giúp anh cân bằng cuộc sống tinh thần và tình cảm với việc nghiên cứu khoa học.

Dù sao thì hiện nay Ngô Bảo Châu đã là một ngôi sao lấp lánh trên vòm trời toán học thế giới, dù nhận được giải Fields hay không. Tuy nhiên nếu được trao giải, anh sẽ là người Việt Nam đầu tiên nhận được huy chương cao quý này. Cho đến 2006, trong suốt 70 năm hiện hữu (1936 - 2006), chỉ có 50 nhà toán học nhận được giải Fields, trong đó có ba người xuất thân từ châu Á: hai người Nhật và một người Mỹ gốc Trung Hoa. Được mời làm báo cáo viên toàn thể tại ICM, mọi người xem điều này như là một dấu hiệu rõ ràng nhất anh sẽ nhận được Fields 2010.

Cũng như bao nhiêu người Việt Nam khác, tôi kỳ vọng rất nhiều vào Ngô Bảo Châu, tin chắc chỉ vài ngày nữa anh sẽ làm rạng danh Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực khoa học.

Theo Võ Thành Dũng (Paris) - SGTT / Dân Trí

8/01/2010

Grigory Perelman - Tuổi thơ bị đánh mất của thiên tài khổ hạnh

Đầu tháng 7 vừa rồi, nhà toán học Nga Grigory Perelman từ chối nhận giải thưởng 1 triệu USD của Viện Toán học Mỹ Clay (U.S.Clay Mathematic Institute) trao tặng vì đã giải được một trong “bảy thách đố thiên niên kỷ” của toán học là giả thuyết Poincaré, khiến các nhà toán học đau đầu trong suốt thế kỷ XX.

Bốn năm trước (2006), nhà toán học này cũng đã không sang Tây Ban Nha nhận giải thưởng Fields của Hội Toán học Quốc tế, giải thưởng được ví như “Nobel Toán học”.

Vì sao Grigory Perelman lại có cách hành xử lập dị như vậy và trên thực tế ông là con người như thế nào?
Grigory Perelman - Tuổi thơ bị đánh mất của thiên tài khổ hạnh

Tuổi thơ bị đánh mất

Đối với Grisha (tên gọi thân mật của Grigory Perelman) thời thơ ấu kết thúc năm lên 4 tuổi. Trong khi các bạn bè cùng lứa ngồi nghịch cát hay phóng xe đạp đuổi nhau thì cậu bé Do Thái cặm cụi đọc các cuốn sách giáo khoa toán tiểu học.

Grisha là một cậu bé kỳ lạ, tôi không bao giờ nhìn thấy cậu chơi đùa trong sân - Zinaida Timofeevna, người phụ nữ hàng xóm của Perelman nhớ lại. - Cậu ta không thích những trò nghịch ngợm của trẻ con. Khi bạn bè đá bóng thì cậu đọc sách lịch sử hay ngồi đánh cờ với bố. Cậu bé này phát triển không đúng lứa tuổi”.

Năm lên sáu Grisha đến trường. Ở tuổi này cậu bé đã có thể dễ dàng làm nhẩm những phép tính ba con số. Trong khi đó một số bạn học mới chỉ biết đếm đến 100.

Tám năm đầu tiên Perelman học tại Trường phổ thông số 301 thuộc quận Kupchino ở vùng ven Leningrad. Mẹ Grisha là giáo viên của trường, bà buồn rầu vì không thể xin cho con vào học trường tốt hơn, và sợ rằng kiến thức của đứa con trai tài năng mai một đi khi tiếp xúc với các bạn có học lực yếu hơn.

Học xong lớp 4, Grisha tham gia câu lạc bộ toán học của Cung Thiếu nhi. Một năm sau cậu bắt đầu tham gia câu lạc bộ hoá học và vật lý.

Năm 1982 Grigory Perelman chuyển đến Trường phổ thông toán-lý số 239. Để vào được trường này mẹ của nhà toán học tương lai đã chạy vạy xin xỏ và luôn mồm khoe với các giáo viên về năng khiếu đặc biệt của con mình. Về sau hoá ra, sự lo lắng của bà là không cần thiết. Khi thi vào trường, Grisha đều đạt điểm xuất sắc ở tất cả các môn.

Grigory Perelman hai lần đoạt giải nhất học sinh giỏi toán toàn Nga. Năm 1982 anh đoạt huy chương Vàng trong kỳ thi toán quốc tế tổ chức ở Budapest. Lúc bấy gờ cậu bé 15 tuổi giành được điểm kỷ lục 42/42. Đây là một thành tích hiếm hoi.

Một tháng sau Perelman nhận được lời mời của một trong những trường đại học Mỹ ở New York. Những người thân của Grigory nói, ngay lúc bấy giờ người Mỹ đã biết rằng tương lai to lớn đang chờ đợi nhà toán học trẻ. Tuy nhiên anh đã từ chối lời mời hấp dẫn đó.

“Nhiều nhân vật kiệt xuất đã tốt nghiệp trường chúng tôi. Một số người hiện nay đang giữ những chức vụ cao trong chính phủ”, - bà hiệu trưởng Tamara Efimova nói. Mặc dù Grisha không bao giờ tham gia vào các hoạt động vui chơi, không ai trêu chọc cậu. Đơn giản là Perelman không còn một phút rảnh rỗi nào. Bởi ngoài những giờ học ở trường, Grisha hai lần trong tuần tham gia câu lạc bộ toán, học chơi vĩ cầm. Nhân tiện nói thêm, cậu cũng học rất giỏi các môn xã hội. Viết văn rất chuẩn, là một diễn giả tuyệt vời. Thế nhưng một học sinh tài năng như vậy mà vẫn không được nhận huy chương vàng.

Perelman được vào học thẳng khoa Toán cơ Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Leningrad.

Thông minh như người ngoài hành tinh
Grigory Perelman - Tuổi thơ bị đánh mất của thiên tài khổ hạnh

Khoá học của Grigory Perelman được chia ra các bộ môn. Anh chọn một trong những bộ môn khó nhất - hình học. Những môn chính tại bộ môn của anh là giải tích hàm, cơ lý thuyết, điều khiển vật lý - toán, lý thuyết xác suất và tiếng Anh.

Perelman chỉ giao tiếp với một nhóm nhỏ gồm những học sinh tốt nghiệp Trường trung học phổ thông toán-lý Leningrad, - Elena Baltiskaya, một cựu học sinh trường này khẳng định. - Tất nhiên, tôi cũng có nghe nói về những năng khiếu đặc biệt của cậu ấy về môn toán, nhưng Grisha không phải là người duy nhất trong khoá.

Ví dụ, cùng học với chúng tôi có một cậu bé 14 tuổi. Còn trên các giờ giảng thường có mặt một thần đồng 9 tuổi. So với những cậu bé này Grisha chỉ là một sinh viên bình thường. Tôi không bao giờ trò chuyện với cậu ấy. Thời sinh viên, chúng tôi yêu đương, chơi bời thoải mái. Về mặt này Grisha không được các bạn gái nào để ý”.

Grisha là một sinh viên rất thông minh và rất độc đáo, - Stanislav Brzhozovsky nhớ lại. - Bất luận chúng tôi bàn về vấn đề gì, Grisha bao giờ cũng có ý kiến của mình, khá lập dị. Đồng thời những lý lẽ của cậu không bao giờ giống quan điểm của số đông. Thuyết phục Perelman là một nhiệm vụ bất khả thi. Cậu ta lầm lỳ và rắn chắc như một cỗ xe tăng. Cậu coi quan điểm riêng của mình là duy nhất đúng”.

Nhiều bạn lúc bấy giờ cảm thấy rằng Grisha hoàn toàn phớt lờ mọi người và dư luận xã hội.

Một trong những bạn cùng khoá của Perelman nhận xét nhà khoa học Peterburg như sau: “Grisha thông minh như người ngoài hành tinh. Cậu ấy uyên bác về tất cả mọi lĩnh vực. Nếu không có kinh nghiệm giao tiếp với những người như vậy, bạn không thể hiểu anh ta”.

Năm 1987 Grigory Perelman tốt nghiệp đại học tổng hợp. Mấy năm sau anh được mời đi giảng bài ở nước ngoài. Là một nhà toán học thành đạt, kiếm được nhiều tiền. “Cuộc sống bắt đầu dễ thở”, - nhiều lần anh hoan hỉ nói. Nhưng tất cả thay đổi trong nháy mắt, khi cuối năm 1991 bố anh di tản sang Israel.

Bà Luybov Lvovna kiên quyết từ chối rời bỏ nước Nga cùng chồng. Cuộc chạy trốn của người bố bị con trai coi như một sự phản bội đối với gia đình.

Từ đó chàng trai hoàn toàn sống ẩn dật. Lúc bấy giờ anh quyết định dứt khoát không bao giờ rời khỏi S.Peterburg, không bao giờ bỏ mặc mẹ mình.

Em gái của Grigory, Elena Perelman, lại xử sự theo cách khác. Cô đã sang Thuỵ Điển sống và giảng dạy toán ở đấy.

Thiên tài khổ hạnh

Năm 1999, Grigory Perelman mua căn hộ một phòng tại chung cư mới 9 tầng trên phố Bolshevich. Từ đây đến nhà mẹ anh đi bộ mất 10 phút.

“Lần gần nhất tôi nhìn thấy Perelman cách đây mấy ngày - người phụ nữ láng giềng của nhà toán học nói. - Anh ấy mặc một chiếc áo khoác màu cháo lòng có mũ trùm đầu và chiếc quần dài màu xám lấm bẩn. Chúng tôi gặp nhau cạnh hòm thư. Anh ấy lấy báo và cuốc bộ lên tầng sáu. Nhìn thấy mẩu thư trên cánh cửa, đọc rồi đi luôn. Không vào nhà.

Nói chung tôi luôn luôn cảm thấy Perelman là một con người khá kỳ quặc. Anh ấy sống ở đây đã gần chục năm mà tôi thậm chí không biết tên. Tất nhiên anh ấy luôn luôn chào hỏi, nhưng không thích tiếp xúc gần gũi hơn.

Lúc đầu tôi trộm nghĩ: hay là một tay khủng bố nào đến sống ở đây? Trông anh ta chẳng có gì nổi bật: tóc tai bù xù, râu không cạo, móng tay dài nghêu, ăn mặc như một kẻ hành khất. Quả thật, sống hết sức lặng lẽ.

Không bao giờ sinh sự, nói năng nhỏ nhẹ, không đưa phụ nữ về nhà. Giá bạn biết anh ta nghèo đến mức nào! Một lần điện thoại của chúng tôi bị hỏng, tôi đến nhờ giúp đỡ. Ghé mắt vào căn hộ anh ấy, ngoài chiếc giường, cái bàn và điện thoại ra, tôi không thấy gì nữa”.

Điện thoại bàn trong căn hộ của Perelman bị hỏng. Chuông cửa cũng không kêu.

Không thể nào tìm được nhà khoa học. Thế nhưng chúng tôi đã gặp được người có thể chia sẻ một số thông tin về anh.

Từ tháng 1 năm 2006, Grigory Perelman trở thành thất nghiệp. Nhà khoa học không kịp tích luỹ tiền phòng khi gặp khó khăn. Trước đây, số tiền lương 4000 rúp mà anh nhận được ở phân hiệu S.Peterburg của Viện Toán học chỉ đủ trả tiền thuê hai căn hộ và vé ôtô tháng.

Có lần, một người tò mò hỏi Grigory có bạn gái không, nhà toán học khoát tay thất vọng nói: “Làm sao có được bạn gái, nếu tôi không có tiền mua vé vào phòng hoà nhạc”. Hiện nay gia đình nhà toán học sống lay lắt. Số tiền lương hưu ít ỏi của mẹ anh chỉ đủ cho những nhu cầu tối thiểu.

“Năm 2006 Grisha không đi nhận giải thưởng ở Tây Ban Nha, vì không có tiền mua vé, - cô giáo cũ của Perelman ở trường phổ thông nói tiếp. - Rất có thể, các cán bộ của Viện Toán có thể tạo điều kiện giúp đỡ cậu ấy. Nhưng chắc gì các đồng nghiệp cũ biết được hoàn cảnh của Grigory. Hơn nữa, Grigory không bao giờ chìa tay nhận sự giúp đỡ của một cơ quan đã sa thải anh”.

Để kiểm chứng thông tin, chúng tôi trực tiếp đến phân hiệu S.Peterburg của Viện Toán mang tên V.A.Steklov.

“Làm gì có chuyện đó, không ai sa thải Grisha hết. Năm 2004 anh ấy được bổ nhiệm chức danh nghiên cứu viên chính, mà đó là một vị trí khá cao, chỉ sau viện sĩ thông tấn và tiến sĩ khoa học, - nữ nhân viên phòng cán bộ nói - Tôi cũng không hiểu vì sao anh ta xin thôi việc. Còn nhớ, khi Grisha mang đơn đến, tôi suýt ngã khuỵu xuống. “Anh sẽ sống bằng gì?” - tôi hỏi.

“Tôi còn một ít tiền tiết kiệm”, - Grisha an ủi tôi. Bản thân ông viện trưởng cũng thuyết phục anh ấy ở lại. Nhưng Grisha không thể từ bỏ một quyết định đã được thông qua”.

Vào ngày hôm đó, chúng tôi liên lạc với các đồng nghiệp cũ của Perelman.

Grisha làm việc nhiều năm tại phòng thí nghiệm hình học và lý thuyết topo. Nhưng có thời gian anh ấy cãi nhau với các nhà hình học và chuyển sang chỗ chúng tôi, tại phòng thí nghiệm toán-lý, - Aleksey Vakulenko, một cán bộ của Viện, nói. - Công việc ở bộ phận chúng tôi không thích hợp với chuyên môn của anh ấy. Chúng tôi khó tìm thấy tiếng nói chung, mà bắt đầu lại từ số không không phải đơn giản. Grisha ngại giao tiếp, sống ẩn mình như các thiên tài. Hơn nữa, anh ấy ít khi đến cơ quan, chủ yếu làm việc ở nhà. Nhưng khi một đồng nghiệp nào đó cần tư vấn, Grisha vui vẻ nhận lời”.

“Các nhà toán học nói chung là những con người lập dị, - một cán bộ Viện xin giấu tên, nói. - Sống với họ rất khó khăn. Những người bình thường không hiểu được thế giới nội tâm của họ. Toán học đòi hỏi sự tập trung cao độ.

Hơn nữa, tất cả các thiên tài toán học đều mắc bệnh tự kỷ. Tự kỷ trước hết là sống khép kín, cách li với thế giới bên ngoài, tuyệt đối tin vào lẽ phải và tầm quan trọng của mình. Ví dụ, khi được hỏi ai là thầy của anh, Perelman trả lời một cách đầy tự tin: “Tôi không có những người thầy, mọi thứ đều do tôi tự phấn đấu”.

Những người này không quan tâm tới dư luận xã hội. Thông thường họ rất giỏi toán và hoàn toàn mù tịt về con người. Bạn còn nhớ phim “Người trong mưa” (Một bộ phim nổi tiếng của Mỹ với nhân vật chính do Dustin Hoffman đóng - BT) không? Grisha của chúng ta là thế đấy”.
tuyensinhvn.Com (LDO-RU)