Hiển thị các bài đăng có nhãn Số học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Số học. Hiển thị tất cả bài đăng

3/17/2012

Một số bài toán số học liên quan đến lũy thừa

Các bạn xem bài viết Một số bài toán số học liên quan đến lũy thừa. Trong các kỳ thi học sinh giỏi chúng ta hay gặp các bài toán số học liên quan đến lũy thừa như chứng minh sự chia hết, chứng minh sự tồn tại hoặc tìm các số nguyên thỏa mãn điều kiện,... Trong những năm gần đây, dạng toán này cũng xuất hiện nhiều trong các đề thi quốc gia, đề thi chọn đội tuyển thi quốc tế (CĐT) của các nước, các đề dự tuyển và các đề thi Toán quốc tế (IMO). Đây là những bài toán hay và tất nhiên không dễ nếu không nắm được một số kỹ thuật cũng như nhận dạng được kiểu bài toán. Các lời giải thường sử dụng công cụ không khó nhưng chứa đựng nhiều sự tinh tế và sự linh hoạt trong vận dụng kiến thức. Bài viết dưới đây đề cập đến một số kiến thức cơ bản và kỹ năng liên quan đến các bài toán dạng này.

bai toan so hoc, luy thua
Tài liệu  được biên soạn bởi Phạm Văn Quốc (Trường THPT chuyên Khoa Học Tự Nhiên).
Các bạn tải tài liệu bài toán số học liên quan đến lũy thừa theo link sau:
Download

Xem thêm: sách số học cũa Nguyễn Vũ Thanh / Thặng dư bậc hai 

1/18/2012

Đôi điều thú vị về số chính phương

“Sự tuần hoàn của một số chính phương”.
            Quan sát các chữ số cuối của các bình phương các số từ 1 đến 9 ta thấy xuất hiện dãy số 1, 4, 9, 6, 5, 6, 9, 4, 1. Bình phương của 10 là 100, có chữ số cuối là 0. Các bình phương của các số tiếp theo cũng có các chữ số cuối lập thành dãy số 1, 4, 9, 6, 5, 6, 9, 4, 1. tất cả các bình phương của các số tự nhiên có các chữ số cuối lặp đi lặp lại trong vòng tuần hòan này, hiện tượng lặp đi lặp lại vô số lần. Vòng lặp đi lặp lại này có số 0 làm ranh giới.
            Người ta còn phát hiện “số gốc” của các bình phương chỉ có thể là 1, 4, 7, 9. mà không thể là các chữ số khác. Người ta gọi “số gốc” của một số là chỉ con số thu được khi cộng dần các chữ số có trong con số, khi tổng số gặp số 9 thì bỏ đi và tính tổng tiếp nếu gặp số 9 lại bỏ đi đến khi còn lại số cuối cùng nhỏ hơn 9 thì giữ lại, chữ số còn lại gọi là “số gốc” của con số đã xét (hiểu theo cách khác là lấy tổng các chữ số của số đó đem chia cho 9, ta lấy số dư của phép chia đó). Như vậy “số gốc” chính là kết quả phép tính cộng dồn các chữ  số có trong một con số, lấy số 9 làm điểm dừng.
Ví dụ : “số gốc” của 135 là 9, “số gốc” của 246 là 3…
Ứng dụng tính chất vừa nêu ta có thể phán đoán một số có phải là một số chính phương hay không.
Ví dụ : Xét xem số 98765432123456789 có phải là một số chính phương hay không ?
            Ta tìm số gốc của con số trên :
            Ta có thể tính như sau :
            Cách 1 :  9+8+7+6+5+4+3+2+1+2+3+4+5+6+7+8+9
                        =  9+9+(8+1)+2(7+2)+2(6+3)+2(5+4)+ 8 => có số gốc là 8
Cách 2    9+8+7+6+5+4+3+2+1+2+3+4+5+6+7+8+9
=  (9+8+7+6+5+4+3+2+1)+(2+3+4+5+6+7+8+9)
=                     45              +               44
=                     89
     8 + 9 = 17;            1 + 7 = 8 => có số gốc là 8
   ( Hay   89 : 9 = 9 dư 8        => có số gốc là 8)                              
            Số gốc là 8 khác 1,4,7,9 nên số A không là số chính phương.

Số gốc của các số chính phương còn lập thành một dãy số tuần hoàn  1, 4, 9, 7, 7, 9, 4, 1. Ở đây chữ số ranh giới là chữ số 9 chứ không phải là chữ số 0 như tính chất trên.
Ví dụ :             100 ( bình phương của 10) có số gốc là 1
                        121 ( bình phương của 11) có số gốc là 4
144 ( bình phương của 12) có số gốc là 9
169 ( bình phương của 13) có số gốc là 7
196 ( bình phương của 14) có số gốc là 7
225 ( bình phương của 15) có số gốc là 9
256 ( bình phương của 16) có số gốc là 4
289 ( bình phương của 17) có số gốc là 1
324 ( bình phương của 18) có số gốc là 9      (ranh giới của chu kỳ).
361 ( bình phương của 13) có số gốc là 1      (ranh giới lặp lại)


“Sự kì lạ của số lẻ”
                        Ta có         1 + 3                                                = 4   = 22
                                          1 + 3 + 5                                          = 9   = 32
                                          1 + 3 + 5 + 7                                   = 16 = 42
                                          1 + 3 + 5 + 7 + 9                            = 25 = 52
                                          1 + 3 + 5 + 7 + 9 + 11                   = 36 = 62
                                          1 + 3 + 5 + 7 + 9 +11 + 13            = 49 = 72
                                          ………………………
            Đến đây ta có quy luật: Tổng n số lẻ đầu tiên là một số chính phương
                                                                        1 + 3 + 5 + … + (2n + 1) = n2
                         

“Lại thêm một điều thú vị”
            Bạn nghĩ sao về câu nói: “Tổng lập phương các số tự nhiên liên tiếp từ 1 là một số chính phương”. Ta dễ dàng kiểm tra bằng máy tính như sau:
                                    13 +23                                      = 9      = 32
                                    13 +23 + 33                                          = 36    = 62
                                    13 +23 + 33 + 43                                  = 100  = 102
                                    13 +23 + 33 + 43 + 53              = 225  = 152
                                    13 +23 + 33 + 43 + 53 + 63      = 441  = 212
                                    13 +23 + 33 + 43 + 53 + 63 +73           = 784  = 282
                                    ……………………
            Nếu ta ta để ý ta có thể nhận ra rằng:
                                    1 + 2 = 3
                                    1 + 2 + 3 = 6
                                    1 + 2 + 3 + 4 = 10
                                    1 + 2 + 3 + 4 + 5 = 15
                                    1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 = 21
                                    1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 = 28
                                    …………………
            Đến đây ta có thể tìm ra được quy luật: 13 +23 +…+ n3 = (1 + 2 +…+ n)2

Cai Việt Long - THPT Hà Nội Amsterdam

1/06/2012

Một số kỹ thuật biến đổi cơ bản trong số học và ứng dụng

Số học là một trong những bài toán khó trong các kỳ thi học sinh giỏi. Học sinh ít được tiếp cận với dạng toán này và thường lúng túng trong quá trình tìm hướng giải quyết.
MỘT VÀI BIẾN ĐỔI VÀ ỨNG DỤNG ĐƠN GIẢN TRONG SỐ HỌC là sáng kiến kinh nghiệm của thầy Dương Châu Dinh, GV Toán, Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Quảng Trị giúp bạn giải quyết các khó khăn đó..
Tải về file WORD: Một số kỹ thuật biến đổi cơ bản trong số học và ứng dụng


11/05/2011

Giải phương trình nghiệm nguyên TOÀN TẬP (hàng chục dạng toán và phương pháp giải)

Giải phương trình nghiệm nguyên TOÀN TẬP (hàng chục dạng toán và phương pháp giải) tổng hợp nhiều tài liệu hay về phương trình nghiệm nguyên từ cơ sơ đến nâng cao, dành cho nhiều đối tượng từ học sinh THCS đến Học sinh THPT của các tác giả Phan Thị Nguyệt, Tạ Văn Đức, Đõ Kim Sơn, Phí Thái Thuận. Tất cả trong 1 file.
Tải về file PDF: Chuyen de Phuong trinh nghiem nguyen. Download 1. Download 2.

Xem thêm:
Kinh nghiệm giải pt nghiem nguyen

11/02/2011

Các dạng toán về số nguyên tố

Tài liệu gồm 2 phần:
Phần 1: Tóm tắt các tính chất của số nguyên tố và hợp số và chứng minh các tính chất đó.
Phần 2: Các dạng toán cở bản về số nguyên tố như ước của một số, số nguyên tố và tính chia hết, phương pháp phân tích số nguyên tố và các bài toán số học.

Các dạng toán về số nguyên tố. Download 1. Download 2.

10/15/2011

Hệ đếm và ứng dụng giải toán sơ cấp hay và khó

Luận văn gồm hai chương:
Chương 1 trình bày các kiến thức cơ bản của hệ đếm và tính toán trên máy: Khái niệm hệ đếm, đổi biểu diễn của một số từ hệ đếm cơ số này sang hệ đếm cơ số khác, tính toán số học trong hệ đếm cơ số bất kì; Sử dụng máy tính khoa học (Caculator, Vianacal Vn-570MS, Casio fx570MS, Casio fx-570ES,...) và phần mềm tính toán Maple để đổi biểu diễn của một số từ hệ đếm cơ số này sang hệ đếm cơ số khác và tính toán số học trên hệ đếm cơ số bất kì. Cuối chương trình bày sơ lược nguyên lí trao đổi thông tin trên máy tính điện tử.

Chương 2 trình bày hai ứng dụng của hệ đếm trong toán phổ thông. Một số tính chất chia hết trong hệ đếm cơ số 10 được mở rộng sang cho hệ đếm cơ số bất kì trong §1 của Chương. Điều này cho phép nhìn lại các qui tắc và tiêu chuẩn chia hết trong hệ đếm cơ số 10 và ứng dụng để giải một số bài toán chia hết. Ứng dụng của hệ đếm trong giải toán được minh họa bởi nhiều bài toán thi học sinh giỏi Quốc gia và Quốc tế trong §2 của Chương, qua đây ta cũng thấy rõ mối Quan hệ giữa hệ đếm với các vấn đề khác của toán phổ thông (phương trình hàm, phương trình nghiệm nguyên, dãy truy hồi,...). Những bài thi vô địch đã có trong [7] và [8] không được trình bày ở đây. Vì vậy, kết hợp § này với [7] và [8], số lượng bài toán là đủ nhiều để có thể coi Hệ đếm như một phương pháp giải các bài toán gặp trong phương trình hàm, phương trình nghiệm nguyên ...

Hệ đếm và ứng dụng giải toán sơ cấp, Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Thị Thảo. Download 1. Download 2.