Hiển thị các bài đăng có nhãn Các nhà Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các nhà Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng

1/27/2012

Ngô Bảo Châu bị ném đá

Nếu online thường xuyên trong những ngày Tết Nguyên đán 2012, chắc chắc giáo sư Ngô Bảo Châu đáng kính của chúng ta sẽ bị ... sứt đầu mẻ trán. Ngô Bảo Châu đang bị ném đá hội đồng!
Thần tượng NGÔ BẢO CHÂU đang dần dần sụp đổ!
Ngo bao chau bi nem da

Tiếc cho Ngô Bảo Châu, (cựu nhà báo) Trương Duy Nhất có bài "Giá như Ngô Bảo Châu":
Giá như Ngô Bảo Châu từ chối căn hộ hơn 10 tỷ chính phủ làm quà cho… bố mẹ mình. Bởi với một tài năng và vị thế như anh, không đến nỗi gì lại không thể tự lo cho bố mẹ một chỗ ở đàng hoàng. Tôi không tin Ngô Bảo Châu túng đến vậy.

Giá như Ngô Bảo Châu không nhận khu biệt thự mấy triệu đô từ “chúa đảo” Tuần Châu Đào Hồng Tuyển tặng Viện toán. Bởi tôi không tin Ngô Bảo Châu không biết gì về Đào Hồng Tuyển. Trụ sở Viện có rồi. Nó nằm ở Hà Nội. Khu biệt thự này có chăng cũng chỉ để cho giáo sư Châu cùng các đồng sự trong Viện cuối tuần thi thoảng kéo nhau về nghỉ dưỡng.

Giá như Ngô Bảo Châu không ngửa tay nhận 650 tỷ từ nguồn ngân sách chính phủ để… làm gì tùy thích mà “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì". Nếu muốn làm gì thì làm, “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì" thì lập ra cái Viện nghiên cứu toán kia để làm gì? Vả lại, số tiền đó nếu có, với tình hình hiện tại, nên dồn cho việc khác. Tôi không nói là việc nghiên cứu toán cao cấp với “bổ đề” bổ điếc kia không cần tiền, nhưng trong lúc này, hoàn cảnh này, nhiều thứ khác cần tiền hơn, thiết thực, cấp thiết và “bổ” hơn những bài toán “bổ đề” nhiều.

Giá như Ngô Bảo Châu không trả lời Tuổi Trẻ bằng một câu … phũ phàng đến thế. Không phải báo chí người ta không nhìn ra, không biết viết. Nhưng trong tình thế hiện tại (tôi không tin là Ngô Bảo Châu không hiểu), khi báo chí đã cài một câu hỏi như vậy là họ muốn mượn nhờ câu trả lời của anh, chỉ có anh, với tên tuổi và vị thế của anh nói ra mới có thể đứng được trên mặt báo. Điều đó là cực kỳ lợi hại, hữu ích. Cái tên Ngô Bảo Châu cần cho những thời khắc đó. Tôi không tin là Ngô Bảo Châu lại không hiểu, không nhìn ra vị thế của trí thức và vai trò phản biện, đặc biệt trong bối cảnh này.
Giá như…
Nhưng vì sao Ngô Bảo Châu vẫn ứng xử như vậy? Hay tư duy trí thức trong anh đã ở đẳng cấp cao và… xa như bài toán “bổ đề” đến nay vẫn hiếm người hiểu nổi nó là cái gì?
Osin Huy Đức thì có ý kiến:
Vấn đề là, một nước nghèo như VN làm gì cũng phải tính thứ tự ưu tiên, đầu tư 650 tỷ cho viện toán trong khi tiền bạc đang cần hơn cho những đầu tư khác ở ngay chính trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Không nên nhắc chuyện cái nhà làm gì và tiền, thì nghe đâu Viện Toán chũng chỉ mới được giải ngân vài tỉ. Nhưng, khi GS vừa nhận giải Fields, tôi viết trên Facebook, mong ông ở lại nơi mà ông có thể cống hiến nhiều nhất cho toán học. Trong thời đại ngày nay, những cống hiến có giá trị dù của ai và ở đâu cũng đều cần thiết cho người VN. Dù không làm ra, người Việt vẫn được hưởng lợi từ Iphone của Steve Jobs và FB của Mark Zuckerberg. Thực ra, thành tựu của Ngô Bảo Châu hay Đặng Thái Sơn, đối với người VN, chỉ mới có giá trị ở mức độ tạo ra nguồn cảm hứng. Chính vì thế mà một tiếng nói của các anh ấy, không cẩn thận, nó có thể chuyển cảm hứng của công chúng đi theo một chiều hướng khác.
Muốn biết Ngô Bảo Châu bị ném đá thế nào thì các bạn có thể đọc thêm các bài viết và comment trên đó: Gửi Ngô Bảo Châu, Thư GS Ngô Bảo Châu gửi Bọ Lập, Gấu luận về GS Châu,... và nhiều bài khác trên Facebook.
Hy vọng qua Tết Nhâm Thìn 2012, giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ làm nhiều nói ít. Điều đó sẽ tốt hơn cho ông và tốt hơn cho Toán học thế giới.

11/29/2011

Vũ Hà Văn - người khai sinh số học tổ hợp

tuyensinhvn Xin giới thiệu bài viết mới nhất về một trong hai giáo sư Toán học trẻ nhất Việt Nam - GS Vũ Hà Văn.
Vu ha van, Vũ Hà Văn, Giáo sư, Nhà toán học
Giáo sư Vũ Hà Văn

Giáo sư Vũ Hà Văn là người đầu tiên trên thế giới tìm ra toán "số học tổ hợp" - tạo ra một con đường mới cho nền toán học thế giới. Anh cũng là người đưa ra lời giải cho một loạt các bài toán lớn mà nhiều thập niên lại đây, không ai giải được. Nhưng có lẽ ít ai ngờ, vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới lại có một tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những tháng năm đạn bom khói lửa ở quê hương Việt Nam.

Giải bài toán "bí" nhiều thập niên


Một loạt các lý thuyết toán học của các nhà toán học lẫy lừng như Segre về đại số năm 1950; Shamir về đồ thị ngẫu nhiên năm 1980 và bài toán của hai nhà Nobel vật lý Wigner - Dyson năm 1950, 1960, trong hàng chục năm qua chưa có ai giải đáp nổi để đưa vào ứng dụng. Bài toán “bí” này chỉ chấm dứt khi vị GS toán học người Việt, Vũ Hà Văn - hiện đang giảng dạy ở Trường ĐH Tổng hợp Rutgers, Hoa Kỳ - tìm ra một loạt các định lý về xác suất tổ hợp, ma trận ngẫu nhiên, mật độ giá trị riêng của ma trận ngẫu nhiên.

Sau khi đưa ra các định lý để lý giải, vận dụng các lý thuyết toán của các nhà toán học trên, thì những bài toán vốn đang nằm "ngủ" hàng chục năm qua mới được đưa vào ứng dụng trong thực tế. Anh cũng chính là người "khai mở" nên số học tổ hợp (nằm trong toán tổ hợp), một loại hình toán mới trên thế giới.

Với loại hình toán học mới này, Vũ Hà Văn đã xuất bản một cuốn sách mang tên Additive combinatorics dày 570 trang do nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành. Cuốn sách này anh viết chung với Terence Tao, một trong những nhà toán học hàng đầu của thế giới.

Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya. Tên tuổi và những đóng góp của anh được đặt bên cạnh những tên tuổi toán học lớn của thế giới. Thần đồng toán học thế giới L.Lovasz, hiện là chủ tịch Hội toán học thế giới cũng được trao giải thưởng này vào năm 1979.

GS Vũ Hà Văn cho biết: "Một số công trình phát triển và ứng dụng lý thuyết xác suất mà nhờ đó tôi được trao giải Polya là công trình mà qua đó để giải quyết một số bài toán tổ hợp. Phần lớn các công trình này được bắt nguồn từ luận án Tiến sĩ tôi viết tại Đại học Yale (1994-1998). Trong vòng 10 năm qua, các ý tưởng đã được đào sâu, tìm được nhiều ứng dụng và tôi cũng đã phát triển chúng thêm rất nhiều".

Cuộc hội ngộ với thần đồng toán học L.Lovasz


Có lẽ, người có công đưa Vũ Hà Văn đến với thành công ấy, chính là thần đồng toán học L.Lovasz. Đến bây giờ anh vẫn nhớ như in cái ngày định mệnh năm 1987, sau khi tốt nghiệp Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam, Vũ Hà Văn lên đường sang Hungary học ngành điện tử tại ĐH Bách khoa Budapest. Trong cuộc thi toán Schweitrer Miklos dành cho sinh viên Hungary, bài luận của Vũ Hà Văn đã được Viện sĩ Hàn lâm, thần đồng toán học thế giới L.Lovasz nghe. Ngay sau đó, thần đồng toán học đã đích thân gửi thư tới Đại sứ quán Việt Nam tại Budapest và bày tỏ về khả năng toán học đặc biệt của Văn. Thần đồng toán học thế giới đã đề nghị Đại sứ quán cho sinh viên Vũ Hà Văn được tiếp tục quá trình học tập tại khoa Toán của Trường ĐH Tổng hợp Eotvos Lorand.

"Tôi rất mong muốn nhận được sự giúp đỡ để chúng ta có thể đào tạo tài năng này một cách tốt nhất", giáo sư L.Lovasz nhấn mạnh trong lá thư gửi Đại sứ quán. Lá thư này đã tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc đời chàng sinh viên Vũ Hà Văn. Anh chuyển từ ngành Điện sang học ngành Toán.

Dưới sự giảng dạy trực tiếp của thần đồng toán học thế giới - GS L.Lovasz, chàng sinh viên Việt Nam Vũ Hà Văn đã sớm bộc lộ những sáng tạo xuất sắc trong ngành Toán và đạt được những thành tích đáng nể trong cuộc đời sinh viên.

Liên tục trong các năm 1991, 1992, 1993 anh đã đoạt giải thưởng trong các cuộc thi Schwritzer - là cuộc thi toán khó nhất cho sinh viên nhằm tìm những nhà nghiên cứu cho tương lai. Là sinh viên năm thứ 3, anh được cử đi dự hội nghị toán học trẻ quốc tế tổ chức tại Đại học Conell ở Hoa Kỳ. Tại hội nghị lớn này, anh đã được đọc bài luận và đăng bài trên tạp chí toán học thế giới. Sang năm học thứ tư, anh được cấp thêm một học bổng của các nước trong khối Cộng đồng châu Âu, sang Bỉ theo học chuyên đề một năm tại Trường đại học Gent.

Năm 1994, tốt nghiệp đại học với tấm bằng đỏ, Vũ Hà Văn lại được nhận giải thưởng Renyi Kato của Hội toán học Hungary và được nhận làm luận án tiến sĩ. Với bảng thành tích dày đặc sau 5 năm được thần đồng toán học thế giới giảng dạy, khi tốt nghiệp đại học tại Hungary, có tới 3 trường đại học danh tiếng của Hoa Kỳ đã đồng ý triệu tập Vũ Hà Văn sang học tiến sĩ.

Cuối cùng, mùa hè năm 1994, Vũ Hà Văn đã quyết định sang Hoa Kỳ học tiến sĩ ngành toán tại ĐH Yale, là ngôi trường cổ có ngành toán tốt nhất Hoa Kỳ, dưới sự hướng dẫn của GS Lovasz. Hiện anh đang giảng dạy tại ĐH Tổng hợp Rutgers, New Jersey - ngôi trường có bộ môn toán tổ hợp mà anh theo đuổi. Vũ Hà Văn còn được mời làm Chủ nhiệm chương trình "Số học tổ hợp" của IAS.
vu ha van va gia dinh
GS Vũ Hà Văn và gia đình nhỏ

Cuộc sống gia đình bình dị


Nhìn cuộc sống đầy đủ, tên tuổi vang dội của GS Vũ Hà Văn bây giờ thì ít ai ngờ, anh cũng từng trải qua tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những năm tháng quê hương Việt Nam còn khó khăn. Đó là những năm tháng mà cha Vũ Hà Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương gọi là: "Sống cho qua kỳ đói, khỏi kỳ loạn và chỉ nghĩ làm sao để gia đình được cơm no áo ấm, chứ không dám mơ tới cơm ngon áo đẹp".

Vũ Hà Văn sinh năm 1970, đúng những năm tháng chiến tranh, khói lửa, nên cuộc sống vô cùng vất vả. Cho đến khi thi đỗ điểm rất cao vào khoa Điện tử - Tin học của ĐH Bách khoa Hà Nội, được tiêu chuẩn theo học ở nước ngoài và sang Hungary học, anh vẫn sống trong sự túng thiếu.

Một lần, anh đã phải thốt lên với cha: "Trong đời làm sinh viên của con, con chưa bao giờ được mua đồ mới để dùng cả". Tất cả các đồ dùng cần thiết cho cuộc sống như quần áo, sách vở, radio... Văn đều phải mua lại của những sinh viên tốt nghiệp về nước với giá chỉ bằng 20 - 30% so với đồ mới. Nhưng tất cả những nhọc nhằn của tuổi thơ, của chàng sinh viên xa nhà nơi đất khách cũng không quật ngã được ý chí mạnh mẽ trong Vũ Hà Văn. "Những năm Văn học ở Hungary thiếu thốn lắm, học bổng chỉ đủ ăn thế mà sau 3 năm học đầu, Văn vẫn tiết kiệm được 100 USD mang về cho bố mẹ. Khi cầm đồng tiền ấy, tôi thực sự rất xúc động và thương con", nhà thơ Vũ Quần Phương kể.

Những thành công lớn trên thế giới của Vũ Hà Văn sau này dường như không chỉ là những trái ngọt nơi đầu cành ở chốn đất khách quê người, mà nó đã được ươm mầm từ những năm tháng thơ ấu. Lớn lên trong khốn khó, nhọc nhằn về kinh tế nhưng Vũ Hà Văn lại được hưởng một môi trường giáo dục gia đình tình cảm và luôn đặt sự học lên hàng đầu.

Cha anh, nhà thơ Vũ Quần Phương dù công việc có bận đến bù đầu, vẫn luôn đưa con đi học hàng ngày. Khi đến giờ đón con tan học, dù đang ngồi uống bia vui vẻ bù khú với bạn bè, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng gác cốc đứng dậy đi đón con. "Đừng bao giờ để đứa trẻ đứng đợi ở cổng trường bơ vơ, dù là 5 phút. Khi mà tất cả lớp về hết rồi mà còn mỗi con mình đứng đó thì nó buồn đến chừng nào và lo sợ đến chừng nào. Tôi mồ côi bố từ năm lên 6 nên càng thấm thía sự cô đơn và không bao giờ muốn con có cảm giác mà tôi từng trải qua", nhà thơ Vũ Quần Phương tâm sự. Ông cũng hết sức cầu kỳ khi chọn thầy, chọn trường cho con bởi theo ông, sự thành công của đứa trẻ có sự đóng góp chủ yếu của các thầy. Tâm niệm vậy, nên ngay từ bé, ông đã miệt mài tìm bằng được cho con vị thầy giáo giỏi bậc nhất Hà Nội lúc bấy giờ là thầy Tôn Thất. Dù ngày nắng cũng như ngày mưa gió, bão bùng, ông vẫn đạp xe chở con hàng cây số đến nhà thầy học.

Vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới suốt ngày bù đầu với việc giảng dạy, nghiên cứu, viết sách nhưng vẫn không quên ngày nào cũng gửi email từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho cha mẹ. Bức thư dù ngắn ngủi vài dòng hay dài dằng dặc đến vài trang, luôn là những thông điệp, những dòng tin nhắn, những bức ảnh kể về công việc, cuộc sống trong ngày của Văn và vợ con. Và anh cũng tận tụy với con, với gia đình như chính cha anh đối với anh thuở còn thơ ấu. Sáng sáng, anh đưa hai con tới trường, rồi lái xe tới nơi làm việc hoặc làm việc tại nhà để đến 4 giờ chiều lại vội vã đi đón con, nấu bữa tối cho cả gia đình. "Do công việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi chủ động được thời gian hơn nên những khi không phải đi giảng dạy ở các nước, tôi thường đảm nhiệm việc đưa đón con tới trường giúp vợ. Vợ tôi phải làm công việc theo giờ hành chính không thể về sớm được nên tôi cũng giúp vợ công việc nội trợ như nấu cơm, đi chợ", vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới mỉm cười "thanh minh".

Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya 2008, lần trao giải George Polya gần đây nhất. Đây là giải thưởng cao nhất dành cho những người nghiên cứu toán tổ hợp của Hội Toán học ứng dụng và công nghiệp Mỹ (SIAM) lập ra từ năm 1969. Theo đánh giá của SIAM, các công trình của Vũ Hà Văn đã phát triển các bất đẳng thức cơ bản cho các đa thức ngẫu nhiên. Các bất đẳng thức này có phạm vi ứng dụng rộng hơn các bất đẳng thức trước đây; chúng cho phép tìm ra lời giải cho một số bài toán lớn từ lâu nay trong hình học xạ ảnh, hình học lồi, lý thuyết đồ thị… Các bất đẳng thức này là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong lý thuyết tổ hợp xác suất trong một thập kỷ qua.
tuyensinhvn.Com (Theo Gia đình & Xã hội, Dân trí copy lại).

Xem thêm: Vũ Hà Văn - một trong hai giáo sư Toán học trẻ nhất Việt Nam

9/25/2011

Toán học - một dạng nghệ thuật

Cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Ngô Bảo Châu (cháu) và GS Hà Huy Khoái (chú) - nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam:
GS Hà Huy Khoái cho rằng, để tồn tại, toán học Việt Nam đã qua thời khó khăn nhất; còn để phát triển lên một bước mới, toán học Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất.
GS Ngô Bảo Châu và Hà Huy Khoái
Ngô Bảo Châu: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?

Hà Huy Khoái: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…) Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn - Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!

Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!

Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?

Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.

Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.

Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.

Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.

Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?

Nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
GS Hà Huy Khoái
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản - cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục - là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.

Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.

Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?

Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :

Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.

Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?

Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.

Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?

Mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời.
GS Ngô Bảo Châu
Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.

Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.

Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?

Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng - đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.

Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?

Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?

Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.

Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?
Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”. Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.
Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!

tuyensinhvn.Com và Math.com.vn (Theo Tia sáng)

9/22/2011

Giáo sư Hoàng Tụy được Giải thưởng Constantin Caratheodory

tuyensinhvn vừa hay tin này trên blog của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng. Xin trích bài đăng chúc mừng giáo sư Hoàng Tụy của GS Hưng:
Giáo sư Hoàng Tụy được Giải thưởng Constantin Caratheodory cho lĩnh vực Tối ưu toàn cục
Giáo sư Hoàng Tụy
Chúng tôi vừa được tin sáng nay là GS Hoàng Tụy đã được Giải thưởng Constantin Caratheodory. Đây chính là niềm vinh hạnh của giới khoa học Việt Nam, đặc biệt giới Toán học.
Lĩnh vực tối ưu toàn cục ngoài phần lý thuyết có phần ứng dụng có tác động rất lớn đến khoa học kỹ thuật hiện đại.
Riêng ứng dụng lý thuyết tối ưu vào lĩnh vực mô hình mô phỏng sẽ là cơ sở cho biết bao hướng phát triển trong tương lai trước mắt và lâu dài!
Đây thật là một tin vui, xác định chỗ đứng hàng đầu của GS Hoàng Tụy trong một hướng nghiên cứu mà tương sẽ rất là hoàng tráng.
Chúc GS Hoàng Tụy nhiều sức khỏe và tiếp tục là cây đại thụ của nền toán học Việt Nam, là chỗ tựa của trí thức Việt Nam

GS Nguyễn Đăng Hưng,
Sài gòn 22/9/2011

Đôi nét về giải thưởng Caratheodory
Nhà toán học Constantin Caratheodory

Giải thưởng Constantin Caratheodory do Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục cứ hai năm một lần dành cho cá nhân hay tập thể xuất sắt có cống hiến căn bản cho lý thuyết, lập trình và ứng dụng trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.

Giải có tên nhà toán học lừng danh Constantin Caratheodory người Hy Lạp (1873-1950), đặc biệt vinh danh những cống hiến đã qua được thử thách của thời gian. Tiêu chuẩn bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu mà ảnh hưởng của cống hiến khoa học. Giải “Constantin Caratheodory Prize” vừa được Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục, đề xướng năm nay 2011. Việc bầu chọn đã xảy ra tại Hội nghị Tối ưu Toàn cục tổ chức tại CHANIA, Hy Lạp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng bảy 2011, vừa qua.

GS Hoàng Tụy người được giải đầu tiên cũng chính là người đã có những công trình căn bản và khai sáng cho lĩnh vực Tối ưu Toàn cục.

8/16/2011

Google kỷ niệm ngày sinh của Fermat với logo ấn tượng

Hôm nay, 17/8, các trang chủ Google đều đồng loạt đăng logo mới vẽ hình chiếc bảng với định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học nhằm kỷ niệm 410 năm ngày sinh nhà Toán học vĩ đại Pierre de Fermat (17/08/1601 – 17/08/2011 ).
Logo Google ngày 17/8/2011
Chính Fermat là người sáng lập lý thuyết số hiện đại, trong đó có 2 định lý nổi bật: định lý nhỏ Fermat và định lý lớn Fermat (định lý cuối cùng của Fermat).
Định lý cuối của Fermat là một trong những định lý nổi tiếng trong lịch sử toán học. Định lý này phát biểu như sau:
Không tồn tại các nghiệm nguyên khác không x, y, và z thoả x^n + y^n = z^n trong đó n là một số nguyên lớn hơn 2.
Một con tem về Fermat
Gắn liền với định lý này là câu truyện rất hay, đó là Fermat cho rằng không thể tìm được nghiệm (nguyên) cho phương trình bậc ba. Điều lý thú ở đây là phỏng đoán này được Fermat ghi bên lề một cuốn sách mà không chứng minh, nhưng có kèm theo dòng chữ: “Tôi có một phương pháp rất hay để chứng minh cho trường hợp tổng quát, nhưng không thể viết ra đây vì lề sách quá hẹp.”

Định lý này đã thách thức các nhà toán học gần 4 thế kỷ, và cuối cùng nhà toán học Andrew Wiles (một người Anh, định cư ở Mỹ, sinh 1953) sau 7 năm làm việc trong cô độc và 1 năm giày vò trong cô đơn đã công bố lời giải độc nhất vô nhị vào mùa hè năm 1993 và sửa lại năm 1995, với lời giải dài 200 trang.

8/06/2011

GS Ngô Bảo Châu giao lưu với CLB Tài năng trẻ FYT

Các vấn đề trao đổi: Toán học thực sự ở đâu trong đời sống; giáo dục Toán học và khoa học nói chung ở Việt Nam; xu thế kết hợp giữa các ngành khoa học; và lời khuyên cho các bạn trẻ về quá trình chọn ngành nghề hay phương pháp học tập, nghiên cứu. Thực tế thì cũng trao đổi được ngần ấy, tuy nhiên dung lượng đọng lại không nhiều, một phần vì anh Châu trả lời ngắn, mà kỳ thực mình cũng thấy chả trả lời dài được =) nhưng thực sự là rất khó tóm tắt ý. Anh có lối trả lời chậm rãi, đặc biệt là từ đầu tiên, nghĩ rất lâu mới bắt đầu nói. Hôm nay hỏi xen kẽ luôn từ đầu chứ không phải dồn về cuối. Bài này chắc chắn vẫn bị thiếu sót về nội dung do thỉnh thoảng người ghi chép làm việc riêng :”> ).

MC Hiếu Đinh: Theo anh thì Toán học là gì?

Anh Châu (AC): Toán học là một loại ngôn ngữ. Quá trình học và nghiên cứu, “làm ra” Toán cũng như quá trình sáng tạo ra 1 ngôn ngữ, với các nhiệm vụ: chỉ rõ các khái niệm, hạn chế các khái niệm, đặt tên cho chúng và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. [Hà lúc đấy tự nhiên cười ồ trong óc, đúng thật, khá là thú vị.] Và khi làm 1 bài toán không ra là vì chưa tìm được ngôn ngữ phù hợp.

MC: Anh vừa nói Toán học là 1 ngôn ngữ, đó là danh từ. Vậy nếu dùng 1 tính từ để miêu tả thì anh sẽ dùng từ gì?
AC: Hiệu quả không hợp lý (unreasonable effectiveness). Toán học là một ngôn ngữ do con người nghĩ ra chứ ko phải bị áp đặt nhưng nó là một sản phẩm tuyệt vời đến mức sau này người ta quên nó là do mình nghĩ ra và cho rằng nó có sẵn trong tự nhiên. Ngôn ngữ này được xây dựng từ trong hoàn cảnh rất hẹp nhưng có thể được sử dụng rộng và hiệu quả một cách khó tin. Ví dụ như đạo hàm. Đạo hàm chỉ là một ngôn ngữ lý thuyết do Newton – Lebniz nghĩ ra trong hoàn cảnh liên quan đến vận tốc của chuyển động nhưng bạn có thể thấy hiện nay không có đạo hàm thì không có khoa học. Đó là suy nghĩ của tôi khi dùng từ unreasonable effectiveness như vậy.

MC: Theo anh thì toán học nghiên cứu những gì, mục đích là gì?

AC: Toán học là một bức tranh rất rộng lớn nên khó có thể tóm tắt ngắn gọn. Thực ra đa phần các nhà toán học đều nghiên cứu các vấn đề mang tính nội tại và tôi cũng không nghĩ công trình của tôi nghiên cứu có nhiều áp dụng trực tiếp vào thực tế. Họ nghiên cứu vì vẻ đẹp nội tại của toán học, để thỏa mãn chính bản thân mình. Còn tất nhiên toán học vẫn gắn với thực tế, thực tế luôn là động lực cho các ngành khoa học nhưng có một vấn đề là thường những vấn đề thực tế lại rất khó khiến người ta không thể trả lời được và đôi khi phải cố trả lời phần nào và nói dối rằng đã trả lời được. Các nhà toán học lý thuyết xây dựng lý thuyết của riêng mình, và dù nó chỉ tồn tại trong suy nghĩ của họ, nhưng nó lại chắc chắn đúng và sau đó các lý thuyết này mới được tìm ra và áp dụng vào vấn đề thực tế. Đạo hàm vừa rồi là 1 ví dụ. Đây là một trong số trường hợp, dù không nhiều, lý thuyết đi trước và sau đó giải quyết các vấn đề thực tế. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ nhìn vào các vấn đề thực tế và yêu cầu lấy nó làm mục đích, nghiên cứu tìm ra giải pháp thì có lẽ là sẽ không làm được và phải nói dối như tôi đã nói ở trên.
Vì hôm nay nhiều dân toán nên chiếm 1 phần không nhỏ trong trao đổi là về việc làm toán chuyên nghiệp.

Thảo K10 (HCB IMO 2008): Theo anh nếu cảm thấy mình không thực sự xuất sắc thì có nên tiếp tục theo ngành toán? Khi bắt đầu theo ngành toán anh có nghĩ là anh sẽ làm được điều gì đó vĩ đại, được giải Fields… không ạ?
AC: Theo tôi thì, khi nào mà làm toán cảm thấy đó là 1 việc nặng nhọc, mệt mỏi, rất là vất vả thì nên dừng lại.
Lúc đầu thì đương nhiên là tôi không nghĩ gì cả. Không nên đặt ra mục tiêu như vậy vì 1 là dễ không đạt được mục đích, 2 là dễ bị tâm thần. *Cả phòng cười *.

Hiếu Đinh: Em nghe nói là thời gian đầu anh sang Pháp thì cuộc sống của anh có nhiều vất vả, khổ cực. Có bao giờ những toan tính đời thường ảnh hưởng đến việc theo ngành toán của anh không ạ?
AC: Lúc đầu thì không, có vất vả nhưng lúc đó chưa có nhiều mối lo nên thấy cũng đủ sống, có thể lo được. Nhưng sau đó có con cái, phải lo nghĩ nhiều hơn, nên mình cũng bắt đầu phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Nhưng nói chung là tôi cũng không yêu cầu cao lắm nên tôi cũng không bao giờ phải quá vất vả hay lao tâm khổ tứ về chuyện đó.

Ducy Hoàng (HCV IMO 2008) [Bạn Ý có vẻ rất quan tâm đến kỹ năng làm toán và các chi tiết đời thường của anh Châu =)).] Khi đứng trước 1 bài toán mới thì anh xử lý như thế nào?
AC: Thường thì nếu mà mình le lói hướng đi nào đấy trong đầu rồi thì mình sẽ đâm đầu vào ngay. Nhưng nếu mà khi mình không có hướng gì, thì đầu tiên là phải “làm quen” với bài toán, đừng coi bài toán là thù, bài toán là bạn mình. Lân la hỏi thăm “hàng xóm, láng giềng” của nó (những bài toán lân cận), những người đã nghiên cứu vấn đề này hoặc các vấn đề liên quan, đi lại, dò xét kỹ bên ngoài bài toán. Sau đó thì sẽ đến giai đoạn thực sự phải tìm hướng đi và giải nó. Nhiều khi sẽ thấy rất hóc búa và nản, quá trình đó có thể kéo dài đến vài năm không lối ra hoặc đi theo mãi hướng đó mà không được. Nói chung là phải kiên trì.

Tiếp tục là bạn Ducy Hoang: Những lúc stress như thế thì anh làm thế nào ạ? [Không khác gì phỏng vấn =))]
AC: Thì tôi cũng giống người bình thường thôi, đọc sách, nghe nhạc…

Hỏi: Anh có chơi game không ạ?
AC: Không, tôi cũng có thử nhưng trò bấm bấm thế này (anh minh họa) tôi thấy không hợp. *Mọi người lại cười*.

Hỏi: Thế còn cờ vua?
AC: Cờ vua tôi cũng có chơi, nhưng không có hứng thú. Nói chung tôi thấy mình không hứng thú với những trò chơi đối kháng.


Hỏi: Vậy mà em có đọc 1 bài báo thấy anh hay chơi cờ tướng với hàng xóm?

AC: À, có 1 lần. Tôi đứng xem và bình luận 1 câu. Nhưng nhà báo sau đó không phỏng vấn tôi mà lại phỏng vấn ông hàng nước. [=)).]

Hỏi: Thế anh có bao giờ làm 2 bài toán cùng lúc không ạ? Anh đang làm 1 bài toán và có 1 bài toán khác hấp dẫn anh?
AC: Không, tôi không có khả năng làm nhiều việc 1 lúc. Tôi chỉ yêu từng người một thôi, không yêu nhiều người cùng lúc. ).

Đạt K11 (HCB IMO 2008): Trong cuốn sách của mình Hardy, một nhà lý thuyết số, thẳng thắn thừa nhận rằng các công trình của ông chẳng có bất kỳ một ứng dụng nào cả (mặc dù thực tế sau này nó có) và cho rằng chẳng có gì phải xấu hổ về điều đó. Ông đơn thuần tự hào rằng mình đã đóng góp vào kho tàng trí thức nhân loại… Cá nhân anh khi thực hiện nghiên cứu có nghĩ rằng sau này nó sẽ có ứng dụng gì không?
AC: Không, chắc là không. *Phòng cười đoạn này mới to =)*. Nói chung là khi chúng tôi làm chúng tôi quan tâm đến bản thân bài toán đó nhiều hơn.

Đạt: Nhiều người, có cả đại chúng lẫn người làm toán, cho rằng toán phổ thông rất khác với toán hiện đại. Vậy theo anh ranh giới lớn nhất giữa chúng là gì? Nếu có một ranh giới thực sự lớn như vậy, làm sao để sinh viên chúng em, những người cứ coi như là làm tương đối tốt toán phổ thông nhưng chưa biết gì về toán học hiện đại, có thể biết rằng liệu mình là người phù hợp để theo đuổi lĩnh vực này?
AC: Nhìn chung, thì người làm tốt toán phổ thông thì có thể làm tốt toán hiện đại. Ít nhất là tôi thấy vậy. Nhưng có sự khác biệt, đó là nhận thức về vẻ đẹp. Toán phổ thông hay đề cao tính suy luận lắt léo, còn trong toán học hiện đại tính xây dựng được đề cao hơn. Khi bước vào Đại học tôi cũng trải qua một cú sốc khác biệt như vậy. Bài tập tôi vẫn làm được, kết quả thi chấp nhận được (tôi cũng chỉ hay được 7,8/10 thôi chứ không hay được 10/10). Nhưng tôi không thấy đẹp, và không hiểu tại sao lại làm như vậy. Về lý thuyết thì có thể làm tốt nhưng phải vượt qua được cú sốc này.

Đạt: Cũng như GS nói, em cảm thấy có một cú sốc khi bắt đầu tìm hiểu toán học hiện đại. Không chỉ là về năng lực mà còn cả về sự đam mê. Hardy đã viết ý rằng khi nhỏ ông không hẳn có cái gì gọi là đam mê toán học, ông đơn thuần chỉ thấy thích thú khi mình làm rất tốt, chiến thắng các cậu bé khác và cả giáo viên. Chỉ đến sau này khi được một thày giáo hướng dẫn và chỉ cho một cuốn sách, ông mới tìm được cảm hứng thực thụ của mình. Vậy theo GS có cách nào để vượt qua cú sốc này một cách tương đối chủ động không, hay chúng ta vẫn phải chờ đợi một điều tốt đẹp như vậy =)?
AC: Có lẽ cách tốt nhất là chủ động tiếp cận với những người làm toán hiện đại, không dè dặt, để biết được họ đang làm những gì và tìm được người thày tốt cho mình.
Tiếp theo chuyển đến chuyện dạy toán trong giáo dục. Nói chung, được hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến, đương nhiên là anh cổ vũ cho chuyện phải học theo đam mê, sở thích và khuyến khích các em. Anh lấy VD về chuyện học sinh thi toán quốc tế của Mỹ thì sau này theo toán vẫn khá nhiều, còn số liệu của Trung Quốc thì tỉ lệ là gần như 0%, và đương nhiên là anh nghiêng về cách dạy và luyện thi của Mỹ hơn. Thi quốc tế không nên đặt mục tiêu cao nhất là huy chương, giải thưởng, mà cốt lõi, tột cùng là tăng cường phong trào học toán. Và việc thành lập Viện toán cao cấp là 1 trong những nỗ lực của anh về việc đó.
Để 1 phần giải quyết vấn đề mà Đạt có nêu ra bên trên, rằng có 1 khoảng cách giữa toán phổ thông và toán hiện đại khiến học sinh có thể bị khớp và không tự tin, anh cho rằng nên đưa toán học hiện đại vào phổ thông, nhưng đương nhiên phải có phương pháp phù hợp chứ không phải máy móc là tống vào chương trình học. Toán học hiện đại không thể đi 1 mình được, cần có người hướng dẫn, nếu tự đi sẽ rất dễ bị lạc đường. Có thể có 1 số cách như lập các CLB toán hoặc tổ chức nghiên cứu các đề tài đơn giản thôi, để làm quen, tìm hiểu.
Trả lời câu hỏi về việc theo GS, đâu là mấu chốt để có thể vực dậy việc dạy toán cũng như giáo dục phổ thông hiện nay, GS cho rằng đó là tính chủ động, sự chủ động của tất cả các thành phần: giáo viên, học sinh, phụ huynh… Cũng giống như khoán 10 thành công vì mỗi người, mỗi đơn vị tự lo vậy, giáo dục cũng cần sự chủ động như thế. Chờ đợi cơ chế thì rất lâu, mà từ trên áp xuống 1 cách làm cho tất cả thì lại khó, chi bằng mỗi nơi tự chủ động tìm ra phương pháp và có trách nhiệm hơn với việc mình làm.
NBC and FYT. Ảnh: Lê Việt Hà

Mảng cuối cùng là các câu hỏi khác không liên quan đến toán.

Anh Thành (Khách mời – cựu hs chuyên Toán SP, bằng tuổi anh Châu, nói chung có biết nhau hồi xưa, giám đốc Vinapo): Tôi thấy hiện nay chưa có 1 thống kê nào về số lượng học sinh thi quốc tế hiện đang làm gì, ở đâu, tôi thấy các bạn khá rời rạc trong liên kết.
AC: Theo tôi điều cốt lõi không phải là lập ra 1 cái danh bạ mà là phải tạo ra 1 việc gì đó để làm cùng nhau. Và Viện toán cũng là 1 trong số những việc mà tôi cố gắng tạo ra để phục vụ 1 phần cho điều đó. [Hiện có vẻ như 2 dự án mà anh Châu dành nhiều tâm huyết nhất với sức ảnh hưởng của mình để cống hiến cho nước nhà, cụ thể là toán học, khoa học VN đó là Viện Toán cao cấp và Quỹ NCKH.]

Anh Vinh K11: Nói thật với anh là em có gặp mấy anh PhD và Postdoc… và em thấy có 1 điểm chung là các anh ấy đều khá lập dị và… chưa có vợ. Vậy anh có thể cho em biết ý kiến của anh về vai trò của việc lập gia đình sớm đối với sự phát triển sự nghiệp? [=))))]
AC: (Cười). Một số người yêu toán quá dồn toàn bộ suy nghĩ của mình vào toán học. Họ chỉ dùng lập luận, coi cả cuộc sống là đối tượng toán học mà bỏ qua khả năng quan sát. Trong khi toán học cũng là một phần của cuộc sống, nhưng không phải tất cả. Phụ nữ không phải đối tượng của toán học (cười). Tôi chỉ cho rằng nên biết cân bằng cuộc sống, vậy thôi. Còn điều này cũng phụ thuộc vào tính cách và khả năng của mỗi người, tôi không có bình luận gì về chuyện lấy vợ sớm hay muộn cả.

Hỏi: Gần đây có 1 bác trí thức lớn tuổi đến nói chuyện với FYT và theo bác quan niệm thì trí thức ngoài công việc chuyên môn của mình thì cần có thái độ chính trị rõ ràng và có khả năng định hướng dư luận xã hội. Anh nghĩ thế nào về điều này? Và đặc biệt là khi blog thichhoctoan của anh đang đóng cửa?
AC: Tôi cho rằng trí thức trước hết là những người làm tốt công việc chuyên môn, làm tốt thiên thức của mình. Nên tôi không đồng ý với ý kiến như vậy. Theo tôi điều đó là tùy mỗi người thôi mặc dù tôi thì tôi cũng có thái độ chính trị của riêng mình. Blog của tôi đang tạm ngưng đóng cửa mà thôi. Sở dĩ như vậy không phải vì có thế lực chính trị nào đó như người ta nghĩ mà quan trọng là tôi không hài lòng với những gì tôi đã viết. Nó hơi bông đùa, lúc đầu viết ra cũng khoái chí lắm [:))], nhưng sau cái bông đùa đấy nó thành nặng nề, không hay nữa. Và tôi thấy cần phải thay đổi cách viết, cách truyền đạt. Và vì vậy phải làm lại tất cả từ đầu.

Hỏi: Vì sao thay đổi ạ?
AC: Vì vị trí xã hội thay đổi.

Hỏi: Thế sẽ theo hướng nào ạ, bông đùa hơn hay là … ))?
AC: À, tất nhiên là theo hướng nghiêm túc hơn :d.

Anh Hiếu Cao K10: Trong phim Spiderman có 1 câu là “Sức mạnh lớn, trách nhiệm lớn”, anh nghĩ thế nào về điều này?
AC: Cái đấy là về sự lựa chọn. Quả thực là cách đây 2 năm, tôi không bao giờ nghĩ là mình có thể làm những việc như bây giờ mình đang làm, xây dựng Viện hay quỹ… Nhưng giờ thì tôi có điều kiện làm những việc đấy, và là do tôi lựa chọn như thế. Ngoài ra thì khi lựa chọn, mình cũng phải đặt ra những giới hạn cho sự lựa chọn đó. Tôi tâm huyết với việc gây dựng Viện nhưng chắc chắn cũng sẽ có những việc mà tôi không làm nếu chỉ để gây dựng Viện, ví dụ như vậy.

Chị Minh K9: Thưa GS, người ta hay nói là học sinh trường chuyên hay đần *Đùa chứ, cả phòng phọt cười =))).*. Em muốn hỏi là ở tuổi bọn em bây giờ thì GS như thế nào [=)))] và GS học về cuộc sống từ đâu và theo GS thì làm thế nào để phát triển toàn diện học sinh trường chuyên? [Phát hiện ra chị Minh rất có khiếu làm mọi người cười =)))).]
AC: Em yên tâm 1 điều là ở tuổi em tôi cũng ngây thơ như các em bây giờ thôi. [=).] Hồi xưa tôi phản ứng rất chậm, bây giờ đỡ chậm hơn ). Điều đó cần một quá trình rèn luyện.
Học sinh chuyên ở mình thì thường dành nhiều thời gian học tập, ít có kỹ năng giao tiếp xã hội. Theo tôi thì cho các em tham gia thêm hoạt động. Người Việt mình khá kém trong chuyện tạo ra niềm vui cho nhau. Ví dụ học sinh bây giờ gặp nhau chơi game được cả ngày, chính việc chơi game này chứng tỏ việc không tổ chức được những hoạt động khác để chơi. Chơi game thì rất dễ, chỉ cần vài cái máy tính nối với nhau là chơi được. Trong khi có những hoạt động khác đòi hỏi khả năng tổ chức nhiều hơn. Con người cần chủ yếu trau dồi 3 thứ: suy nghĩ; khả năng giao tiếp, khó nhất là đặt mình vào địa vị người khác để hiểu họ và cuối cùng là diễn đạt ý tưởng của mình. Nói chung là tôi thấy chơi game chẳng giúp ích gì trong những việc đó cả. Các em nên tự tạo niềm vui nhiều hơn.
Ngoài ra thì còn 1 số câu hỏi nữa có tầm vĩ mô như toán học đang đi về đâu, 1 số có tầm siêu hình như mối quan hệ toán học và triết học và nhận thức =), 1 số về Đàm Thanh Sơn hay lịch làm việc của GS :-j, nhưng nhìn chung là hôm nay tán gẫu với anh Châu là chính )). Có 1 vài ý Hà cho là quan trọng và có giá trị nhất thì Hà đã bôi đen ở trên. Những bài học làm người, bài học thành công anh đưa lại có lẽ không có gì mới, nhưng có 1 sự thú vị khi chúng được truyền đạt từ anh ). Anh thể hiện và (có vẻ) cũng muốn nhấn mạnh rằng anh là 1 người hết sức bình thường, 1 cuộc sống bình thường, công việc bình thường, gia đình bình thường, 1 người làm khoa học nhưng không xa rời cuộc sống, rất hay giao lưu (ít nhất là trong giới) và rất yêu gia đình, chú trọng việc giáo dục con cái, cảm giác như anh có 1 sự giáo dục nền tảng rất tốt, rất truyền thống, đúng mực, điềm đạm, hiểu biết.
Trừ 1 vài đoạn khách mời hay quá đà cướp diễn đàn =) với 1 vài câu hỏi mang tính phóng sự đời tư ) thì hôm nay khá ổn về không khí (công quá lớn của MC Hiếu Đinh bảo vệ diễn đàn =)), anh Châu có vẻ cũng có thiện cảm với FYT, chắc thấy bọn này cũng có vẻ sáng sủa, trò chuyện hợp, bông đùa hợp )).
Theo Lê Việt Hà

4/30/2011

Thông tin Toán học 3/2011 của Hội Toán học Việt Nam (Tập 15 số 1)

Thong tin toan hoc, hoi toan hoc viet nam, thang 3/2011
Thông tin Toán học tháng 3/2011 (Tập 15 số 1) của Hội Toán học Việt Nam (vms.org.vn) gồm các bài viết sau:
1. Phỏng vấn Terence Tao
2. Phỏng vấn Srinivasa Varadhan (tiếp)
3. Thống kê trích dẫn (phần cuối)
4. Nguyễn Duy Tiến: Giáo sư Hoàng Hữu Như (1932 - 2009)
5. Nguyễn Chu Gia Vượng: Các số nguyên Gauss
6. Quy chế tổ chức và hoạt động của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán
7. Tin tức hội viên và hoạt động toán học
8. Thông báo Geometry conference: Geometrical methods in Dynamics and Topology.

Tải file PDF (32 trang): Download Thong tin Toan hoc 3/2011.

4/14/2011

Blog Thích Học Toán của Ngô Bảo Châu tạm thời đóng cửa

Mấy ngày gần đây, cư dân mạng xôn xao vì sự ra đi đột ngột của blog nổi tiếng của ngài "Nobel Toán học". Blog Thích Học Toán của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã đóng cửa! (tạm thời)
Blog Thich Hoc Toan cua Ngo Bao Chau dong cua
Blog thichhoctoan của GS Ngô Bảo Châu đã được bảo vệ
Đây là lời tạm biệt của Hòa thượng Thích Học Toán gửi cư dân mạng:
Tạm biệt
Chùa Thích Học Toán tạm đóng cửa từ ngày hôm qua. Bần đạo cáo lỗi với
bạn bè vì hành động đột ngột này.
Nhờ vào cái sân chùa này, bần đạo đã có chỗ để chia sẻ những suy nghĩ
của mình với bạn bè, và đổi lại bần đạo cũng đã học được rất nhiều từ các bạn.
Mỗi ngày đi qua, cái nhu cầu làm mới lại mình bằng sự tĩnh lặng trở nên
cần thiết hơn.
Vậy bây giờ là thời điểm để dừng lại và suy nghĩ. Không thể dừng lại
mà không nói một lời chia tay.
Hẹn có ngày tái ngộ,
Thích Học Toán

Hy vọng có ngày lại được tái ngộ Giáo sư trên thế giới ảo này! Chúc Hòa thượng tu thành chính quả!

2/06/2011

GS Ngô Bảo Châu: "Tôi đang thất bại trên cương vị người thầy"

"Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở" - GS Ngô Bảo Châu.
GS Ngô Bảo Châu:

Vững vàng trước khen chê

Thông thường, khi ta đã đạt một đỉnh cao nhất định, có thành tựu và được biết đến, xã hội và mọi người sẽ chờ đợi nhiều hơn ở ta. Tuy nhiên, trong nhiều chuyện, tôi biết chắc mình có thể làm thầy người khác nhưng vẫn muốn làm học trò. Bây giờ, tôi muốn đi học lại từ đầu như một cậu tân sinh viên!

Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng đặt mình ở vị trí học trò, nhún nhường như một người đi học lại từ đầu. Nhưng không đặt mình ở vị trí học trò, của một người đi học thì rất khó để làm mới mình và chinh phục những đỉnh cao mới trong học thuật. Hơn nữa, làm học trò lần thứ hai sau khi đã làm thầy rồi bao giờ cũng dễ hơn, bởi mình đã trưởng thành hơn, đã đủ va chạm và vững vàng hơn trước những khen chê.

Ngay sau khi thành công với Bổ đề cơ bản - chứ không phải đợi đến khi nhận Giải Fields, tôi đã bắt tay nghiên cứu những lĩnh vực mới mà mình chưa biết tí gì.

Tôi hỏi những người xung quanh là nên đọc sách gì và lại vùi đầu trong thư viện. Nói chung, tôi luôn học lại từ đầu. Bổ đề cơ bản chỉ là ngưỡng nhất định mà mục đích của tôi đến với toán học còn rất xa.

Khi bắt tay nghiên cứu Bổ đề cơ bản, tôi biết mình phải học những gì, tiếp cận những công cụ nào để giải quyết.
"Thà để lại điều gì đó nhỏ thôi một cách âm thầm còn hơn là tạo ra một đống to đùng nhưng không có tác dụng gì" - GS Ngô Bảo Châu.

Bây giờ muốn đi xa hơn, tôi phải học lại để nắm bắt những công cụ mới, bắt đầu từ cơ sở của vấn đề. Điều này hết sức bình thường. Toán học rất rộng lớn, tôi không thể biết hết các công cụ.

Vì thế, nếu muốn biết được các công cụ mới để nghiên cứu những lĩnh vực mới, không còn cách nào khác là phải học lại từ đầu. Tất nhiên, tôi có thể học nhanh hơn sinh viên nhưng tâm thế thực sự phải là của một người đi học.

Nói đến chuyện học, tôi nhớ đến nhà toán học Langlands, cha đẻ chương trình Langlands. Ông là một người đặc biệt bởi khả năng tiên tri.

Langlands là con nhà tiều phu, không học trường danh giá, cũng không làm PhD (tiến sĩ) với thầy giỏi. Ông luôn độc lập nghiên cứu, tự học, thậm chí chẳng thèm đi theo luồng chính của toán học.

Langlands đã đưa ra nhiều công thức làm tiền đề cho chương trình Langlands. Ông đã chứng minh được các dự đoán của mình là đúng trong những trường hợp đặc biệt bằng các công thức hết sức phức tạp. Nếu công thức đó đúng thì rất nhiều định lý khác cũng sẽ đúng.

Khi Langlands đưa ra Bổ đề cơ bản, rất nhiều định lý đã ra đời trên cơ sở bổ đề này. Sau 30-40 năm từ khi Langlands đưa ra bài toán Bổ đề cơ bản, những cái đầu “to” nhất của toán học thế giới đều đã bó tay.

Trong quãng thời gian đó, các ngành khác cũng phát triển và rất nhiều lý thuyết dựa vào chương trình Langlands. Một giáo sư toán học người Canada dạy ở Mỹ đã viết hàng trăm công trình nhưng nếu Bổ đề cơ bản sai thì tất cả công trình của ông đều... đi tong.

Tránh ngộ nhận, ngụy biện

Tôi nhớ mãi bài báo của một nhà toán học người Anh tôi đọc được năm 2003, khi còn là nghiên cứu sinh ở Pháp, nói về phương trình đạo hàm riêng mô tả hạt cơ bản (hạt X).

Chứng minh phủ định sự tồn tại của hạt X vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Tác giả bài báo nghiên cứu hạt X bằng đại số. Tôi học khá sâu về đại số nên rất thích bài này và đọc rất nhiều lần, dù chỉ một lần là hiểu.

Thời điểm ấy, tôi bắt đầu nghiên cứu Bổ đề cơ bản. Tôi nghĩ rằng bài báo này chắc chắn sẽ giúp mình làm được một điều gì đó, ít nhất là tư tưởng tỏa ra từ nó.

Một vấn đề xuất phát điểm là toán học thuần túy, được đại số hóa nhưng lại cho mình những lời giải rất hay, có tính chìa khóa để mở ra nhiều vấn đề trong cuộc sống.

Ngày nay, sách báo không thiếu nhưng vấn đề là làm thế nào để đọc được những thứ cần đọc. Tôi cho rằng đó chính là vai trò của môi trường khoa học, nơi cung cấp cho ta hướng đi đúng đắn.

Có một cách hay để rút ngắn thời gian là hỏi những người đi trước, họ sẽ biết rất rõ sách nào nên và không nên đọc. Nhưng không phải có sách trong tay rồi thì đọc ngấu nghiến là sẽ có thể hiểu hết. Nếu chưa đặt ra câu hỏi, mình vẫn chưa thể tiếp cận được vấn đề.

Nhìn chung, đơn thương độc mã tự giải quyết vấn đề sẽ thất bại nhưng ít ra, sau thất bại ấy, ta cũng đã có được những khúc mắc về vấn đề đang tìm hiểu. Thế nên, đầu tiên là phải khoanh vùng những gì cần học, cần đọc. Khi tìm được câu hỏi rồi thì quay lại vấn đề sẽ vỡ ra nhiều điều.

Tôi đã học được một điều là nếu có gì khúc mắc thì phải diễn đạt ra được bằng một câu hỏi rành mạch. Khi có câu hỏi tốt rồi thì vấn đề đã được giải quyết đến 50%.

Tôi không tuyệt đối hóa vai trò toán học trong cuộc sống của mình. Thế nhưng, toán học giúp tôi phân tích mạch lạc, đâu là dữ kiện, đâu là đáp số. Tôi thấy nhiều người không thể phân biệt điều này nên dẫn đến những sai lầm.

Tôi cho rằng những người học toán và có tư duy toán học có ưu thế là giúp mình tránh ngộ nhận và ngụy biện. Có những suy diễn kiểu như 1 đúng, 2 đúng, suy ra 3-4 cũng phải đúng nhưng thông thường thì cái 3 đã sai rồi. Ngụy biện là tranh luận cho sướng miệng, coi nặng hơn thua mà không cần biết đúng sai.

Công cụ hữu hiệu nhất của tư duy là so sánh. Khi giải quyết được một vấn đề thì khi gặp vấn đề tương tự, nhìn chung những người có tư duy toán học có thể giải quyết tốt.

Thầy và trò

Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở.

Có lẽ tôi đã có chủ quan khi nhận học trò, chọn người làm việc cùng. Tôi từng nghĩ vấn đề mình đặt ra là phù hợp, nếu cần tôi có thể giúp, thậm chí làm thay họ. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận ra kể cả mình có thể làm thay từ A đến Z thì cũng không thể nhét vào đầu họ được nếu họ không tự lao động.

Tôi nhận ra rằng áp đặt logic tư duy vào người khác là rất khó. Để làm việc với nhau được, ý tưởng người thầy phải dẫn dắt, trùng khớp với ý tưởng học trò. Tôi không thành công với các học trò của mình nhưng lại thành công với những người thầy và người đi trước là vì điều này. Nếu tư tưởng và ý chí trùng khớp thì ta sẽ làm việc được với nhau rất lâu.

Tôi rất biết ơn các thầy mình, nhất là thầy Gérard Laumon. Cả thế giới chỉ mình ông có hai sinh viên được Giải Fields.

Thời là nghiên cứu sinh, nhiều khi tôi định dùng “thủ thuật” để gây áp lực cho thầy nhưng đều không qua mắt được ông. Trong cuộc sống, ông là người rất chan hòa, luôn quan tâm, lắng nghe học trò. Có những quãng thời gian tôi cảm thấy rất khó khăn, nhất là giai đoạn làm Master, tôi bị lạc hướng hoàn toàn.

Làm việc với thầy Laumon, tôi đã biết được núi nào đáng leo trong toán học. Ông đã hướng dẫn tôi vượt từng ngọn núi, đầu tiên là đọc 45 trang sách trong vòng 3 tháng.

Giờ đã là người trưởng thành rồi nhưng cứ 2 tuần một lần, tôi lại gọi điện cho ông để chuyện trò, nhiều khi chỉ là những tâm sự trong cuộc sống, thậm chí chuyện “trời ơi đất hỡi”.
tuyensinhvn.Com (Theo NLD)

12/01/2010

Ngô Thúc Lanh - Thầy của các thầy ngành sư phạm Toán

Ngô Thúc Lanh là một giáo sư đầu ngành ở khoa Toán – Tin trường ĐH Sư phạm Hà Nội, nhưng ông chỉ khiêm tốn nhận mình là người dạy toán chứ không phải nhà toán học. Nhiều người cứ nghĩ ông ít nhiều có ảnh hưởng tới người cháu họ nổi tiếng - GS Ngô Bảo Châu, song kỳ thực con đường đi của họ “chẳng liên quan gì đến nhau”.
Giao su Ngo Thuc Lanh
Giáo sư Ngô Thúc Lanh
Gia đình có truyền thống dạy học
Giáo sư Ngô Thúc Lanh đang sống trong một không gian tĩnh lặng tại một căn hộ chung cư ở khu đô thị Trung Hoà, Hà Nội. Khách đến chơi nhà có thể nhận thấy gia phong của một gia đình trí thức Hà Nội xưa vẫn được lưu giữ trong căn hộ hiện đại này.
Ngồi vừa ấm chỗ, cậu học trò vừa nãy mở cửa cho chúng tôi bước vào phòng giáo sư với khay nước trên tay. Cậu khẽ khàng đặt khay nước trên bàn rồi cất tiếng mời ông và khách. Một lát sau, cậu bước vào khoanh hai tay, đầu hơi cúi xuống: “Thưa ông, cháu đi học ạ”, đoạn quay sang chào chúng tôi rồi bước ra ngoài. Giáo sư giới thiệu: “Cháu ngoại tôi, đang học lớp 12”.
Trước khi đến gặp giáo sư Lanh, chúng tôi cũng được nghe những học trò, đồng nghiệp một thuở của ông giới thiệu nhiều về gia đình ông: một gia đình đầm ấm, con cái ngoan, hiếu thảo và đều thành đạt, phương trưởng.
Họ Ngô của giáo sư Ngô Thúc Lanh khởi phát từ nghề dạy học. Cụ thân sinh giáo sư Lanh là cụ Ngô Đình Nhã cùng em trai là Ngô Huy Tân (ông nội của giáo sư Ngô Bảo Châu) đều làm nghề “gõ đầu trẻ” (giáo viên tiểu học). Con cháu của hai cụ chỉ có GS Lanh (đời thứ hai) và GS Châu (đời thứ ba) gắn bó sâu sắc với nghề dạy học và điều thú vị là cả hai đều là giáo sư toán học.
Nói đến đây, GS Lanh cười tủm tỉm: “Một số người thấy báo chí giới thiệu Ngô Bảo Châu có bác họ là nhà toán học Ngô Thúc Lanh nên tưởng tôi có chút ít ảnh hưởng tới Châu trên con đường toán học. Kỳ thực con đường đi của Châu không liên quan gì đến tôi. Giữa chúng tôi, mối dây liên hệ duy nhất là có họ hàng”. Rồi ông đính chính tiếp: “Mà tôi cũng không phải là nhà toán học, tôi chỉ là người dạy toán”.  

Sáng lập ngành toán sư phạm
PGS - TS Bùi Quang Nghị, Chủ nhiệm Khoa Toán - Tin trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho biết, mặc dù xuất thân từ khoa có rất nhiều giáo sư danh tiếng như Hoàng Xuân Sính, Đoàn Quỳnh, Phan Đình Diệu... nhưng chỉ có hai người được tôn xưng là “khai quốc công thần” của ngành sư phạm toán: GS Nguyễn Cảnh Toàn và GS Ngô Thúc Lanh.
Lý giải điều này, GS Lanh kể: “Vị trí của tôi trong ngành là do lịch sử tạo nên. Hồi đó số người biết toán học rất ít. Thời Pháp thuộc, ngay cả những trường cao đẳng kỹ thuật, trình độ toán học cũng không vượt quá chương trình giải tích lớp 12 hiện nay.
Các ông Tạ Quang Bửu, Nguỵ Như Kon Tum muốn học toán thì phải sang Pháp. Mãi đến năm 1941, Pháp mở trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương, Toán học đại cương mới được đưa vào giảng dạy ở Việt Nam. Tôi học khoá 3 trường này, học xong toán học đại cương thì diễn ra Cách mạng Tháng Tám và sau đó là toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Tôi bắt đầu vào ngành giáo dục khi tham gia kháng chiến.
Khi trường Sư phạm Cao cấp được thành lập, người dạy toán hồi đó chỉ có GS Lê Văn Thiêm, GS Nguyễn Xiển và trợ lý cho họ là anh Nguyễn Cảnh Toàn. Về sau có thêm tôi, anh Nguyễn Thúc Hào, anh Khúc Ngọc Khảm... Lớp sau nữa có thêm anh Hoàng Tuỵ.
Trong đội ngũ trên, anh Nguyễn Cảnh Toàn và anh Hoàng Tuỵ là những người đặc biệt có khả năng về toán, chỉ tiếc anh Toàn về sau làm lãnh đạo nên không còn nhiều thời gian dành cho toán”.
Sau giải phóng Thủ đô, trường Sư phạm Cao cấp chuyển về Hà Nội tiếp quản trường Cao đẳng Khoa học, rồi sáp nhập với một số trường khác để thành lập trường ĐH Sư phạm Khoa học. GS Ngô Thúc Lanh vẫn là một trong những trụ cột phụ trách môn Toán.
Chỉ tồn tại 2 năm với 3 khoá đào tạo nhưng trường ĐH Sư phạm Khoa học trở thành máy cái cung cấp cán bộ giảng dạy cho các trường đại học được thành lập sau đó.
Năm 1956, hai trường ĐH Sư phạm Khoa học và ĐH Sư phạm Văn khoa được nhập lại rồi tách ra thành hai trường hoàn chỉnh: ĐH Tổng hợp Hà Nội và ĐH Sư phạm Hà Nội. GS Nguyễn Cảnh Toàn và GS Ngô Thúc Lanh là những vị lãnh đạo đầu tiên của khoa Toán (tiền thân là khoa Toán - Lý) trường ĐH Sư phạm Hà Nội.
Theo GS Vũ Tuấn (nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Hà Nội), thời kỳ GS Ngô Thúc Lanh làm Chủ nhiệm khoa (1956 – 1972) là giai đoạn “khoa Toán làm việc nghiêm túc nhất, dạy dỗ chuẩn mực, học tập và lao động hăng say nhất”.
GS Đoàn Quỳnh, một đồng nghiệp đàn em của GS Ngô Thúc Lanh nhớ lại: “Tuy anh Lanh là lãnh đạo nhưng chúng tôi cảm giác rất dễ dàng chia sẻ các vấn đề với anh. Thời đó, người ta đánh giá con người thiên về thành phần xuất thân nhưng anh Lanh lại rất rộng lượng. Ai cứ có tài, ham học hỏi là được anh ghi nhận, khuyến khích. Anh tạo nên không khí hăng say tìm tòi cái mới trong khoa.
Năm 1967, GS Alexander Grothendieck – một nhà khoa học đoạt giải Fields người Pháp đến Việt Nam. Dù cán bộ giảng dạy của khoa còn thiếu thốn, nếu có ai nghỉ dài ngày khoa phải bố trí người dạy thay rất phức tạp nhưng anh Lanh chủ động khích lệ anh em chúng tôi đi nghe giảng”.
Câu chuyện giữa chúng tôi và giáo sư Ngô Thúc Lanh lại trở về với phong trào học toán ở Việt Nam gắn với cái tên Ngô Bảo Châu. “Thời Ngô Bảo Châu là đỉnh điểm của phong trào học toán. Đến năm 2000 thì phong trào suy yếu. Nhưng thành công của Ngô Bảo Châu - dù là dấu ấn cá nhân- nhưng tôi tin sẽ mang lại một hy vọng mới cho các bạn trẻ yêu toán. Mọi cái có thể thay đổi theo thời gian nhưng giá trị của những thành tựu toán học đối với cuộc sống không bao giờ thay đổi”- GS Ngô Thúc Lanh nhận xét.
tuyensinhvn.Com (Theo Quý Hiên, Tiền Phong)

10/14/2010

Người Việt làm Toán "chạy" gần hết sang Mỹ

Trong khi đội ngũ làm toán của nước ta đang thiếu những người giỏi thì hơn một nửa những người làm toán giỏi đang ở nước ngoài, trong đó phần lớn là ở Mỹ. Nước Mỹ, tất nhiên, không chỉ thu hút nhân tài người Việt mà còn thu hút nhân tài ở khắp thế giới. Những chia sẻ dưới đây của các nhà khoa học và cựu du học sinh ở Mỹ sẽ làm sáng tỏ phần nào nguyên nhân.
Những "tên tuổi" về toán học tập trung ở Mỹ
Người Việt làm Toán chạy gần hết sang Mỹ
GS Lê Tự Quốc Thắng.
Nước Mỹ vốn nổi tiếng là "vùng trũng" thu hút nhân tài. Ngành khoa học cơ bản như Toán học hiển nhiên được chú trọng.
GS Ngô Bảo Châu, mặc dù đã có thời gian học và làm việc 15 năm ở Pháp, vẫn chọn Mỹ là nơi dừng chân.
Những người Việt ở nước ngoài làm toán chuyên nghiệp ước tính trên 100 người, trong đó phần lớn tập trung ở Mỹ.
Những người Việt làm toán có tiếng ở Mỹ có thể kể đến: GS Vũ Hà Văn (ĐH Rutgers), GS Dương Hồng Phong (ĐH Columbia), GS Đào Hải Long (ĐH Kansas), Lê Hải An (ĐH Utah), GS Lê Tự Quốc Thắng (Viện công nghệ Georgia, Atlanta), GS Phạm Hữu Tiệp (ĐH Florida), Ngô Thanh Nhàn (ĐH New York)...
Ông Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam cho biết trong số khoảng gần 30 người Việt đang làm việc về ngành toán ở nước ngoài có trao đổi thường xuyên và thỉnh thoảng về nước làm việc thì có khoảng một nửa đang làm việc tại Mỹ.
"Những người làm toán trẻ và giỏi, độ tuổi trên dưới 35 phải đến hơn một nửa đang làm việc ở nước ngoài, trong đó chủ yếu ở Mỹ", ông cho biết thêm.
Nước đứng đầu về số lượng giải Fields, giải thưởng cao quý nhất về toán học cũng chính là Mỹ (13 giải), tiếp đến là Pháp (11 giải), Nga (9 giải), Anh (6 giải).
Tại ĐH Toán học thế giới vừa qua tại Ấn Độ, có 19 báo cáo mời toàn thể thì Mỹ chiếm tới 11 báo cáo. Không thể không nhắc tới, GS Ngô Bảo Châu khi thêm vào một huy chương Fields cho bảng thành tích giải Fields của nước này.
Vì sao nước Mỹ là đích đến cho các nhà toán học?
Người Việt làm Toán chạy gần hết sang Mỹ
GS Đào Hải Long.
Một GS toán người Việt đang làm việc tại Mỹ nhận định: "Một đất nước muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải có nền khoa học tiên tiến - đây chính là tư tưởng mà Mỹ đã áp dụng từ rất lâu.
Làm khoa học, ai cũng muốn ở trong một môi trường có nhiều người quan tâm tới thứ mình làm, có nhiều người để thảo luận và cộng tác. Mỹ chính là một môi trường như vậy, có rất nhiều nhà khoa học trong mỗi chuyên ngành hẹp. Đây là kết quả của một quá trình đầu tư lâu dài".
GS. Ngô Bảo Châu trong một bài phỏng vấn cũng nói lý do chuyển đến ĐH Chicago là vì cần những đồng nghiệp có thể hiểu những gì anh đang làm.
GS Hà Huy Tài, ĐH Tulane (Mỹ) cho biết thêm: "Không phải các nhà khoa học không muốn sang châu Âu, mà sang châu Âu khó hơn qua Mỹ, mà công việc thì chưa chắc đã tốt bằng. Mỹ có rất nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu. Hơn nữa, khi xét hồ sơ xin việc trong khoa học, người ta sẽ không quan tâm anh là người Mỹ hay người nước ngoài (trừ một số nơi đặc biệt), thành ra, cơ hội là cao hơn. Ở châu Âu, số lượng các trường đại học ít hơn nhiều, và thường vẫn có sự ưu tiên cho người bản xứ".
Người Việt làm Toán ở nước ngoài
Theo thống kê sơ bộ, hiện có gần 100 người Việt làm toán (hiểu theo nghĩa có công việc tương đối ổn định, và có làm việc nghiên cứu về toán, kể cả lý thuyết lẫn ứng dụng) đang định cư ở nước ngoài. So với tổng số các nhà toán học trên thế giới thì con số này chỉ là "muối bỏ biển", nhưng so với VN thì đây là con số đáng kể, và sẽ là một động lực quan trọng cho việc phát triển toán học của VN
Thêm vào đó "Ở Mỹ, lương trả cao hơn ở các nước khác, hơn nữa lương trả theo khả năng. Hai giáo sư cùng một chuyên ngành, vào trường cùng thời gian nhưng lương có thể khác hẳn nhau. Nếu bạn thật sự giỏi, người ta sẵn sàng trả lương rất cao để mời bạn về. Ở nhiều nước châu Âu (trong đó có Việt Nam), nếu hai người có cùng học hàm, học vị, cùng thâm niên công tác và làm việc cùng cơ quan thì lương phần nhiều là tương đương nhau", GS Hà Huy Tài nói.
Một du học sinh tại Mỹ, đã từng làm việc tại Mỹ và Việt Nam, Nguyễn Nguyệt, lý giải vì sao Mỹ thu hút được nhân tài khắp thế giới:
"Từ thế chiến thứ II đến nay, Mỹ luôn ra sức giành giật nguồn chất xám từ các nước. Nước Mỹ chiếm tới 2/3 số giải Nobel của thế giới, trong đó, có sự đóng góp của rất nhiều nhà khoa học nhập cư. Và chính nguồn chất xám thu hút được này đã giúp Mỹ tích lũy được một nguồn của cải khổng lồ với GDP lên tới gần 15.000 tỉ USD trong năm ngoái là năm đang chìm trong suy thoái.
Có thể nói, họ gặt hái được nhiều thành công và xây dựng được một nền kinh tế vượt bậc là do họ biết định giá nhân tài, và mua chất xám. Lí do Mỹ thu hút được nguồn nhân tài lớn do thu nhập cao, môi trường năng động, cơ sở vật chất đầy đủ, đãi ngộ rất tốt đối với những cá nhân xuất sắc.
Cơ chế thị trường của Mỹ đã được xây dựng và củng cố từ hàng trăm năm nay. Môi trường pháp lý cũng rất phát triển. Do đó, môi trường làm việc vô cùng chuyên nghiệp, với sự liên kết chặt chẽ, đề cao sự sang tạo và cái mới, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Sự liên lạc – trao đổi thông tin được đề cao, cạnh tranh khốc liệt nhưng công bằng.
Trong văn hóa Mỹ, giá trị của một con người nằm ở việc anh ta làm được gì và anh ta làm việc bao lâu nên cuộc sống xoay quanh công việc, vô cùng căng thẳng".
Thu hút người tài trở về từ Mỹ
Chỉ thu hút được người làm toán giỏi ở Mỹ về Việt Nam cũng là một thành công lớn. Nếu như môi trường làm việc ở Mỹ được coi là lý tưởng thì môi trường sống không hẳn như vậy. Người Việt dù xa quê nhiều năm vẫn thèm một không khí ấm áp, chân tình như ở quê nhà. Đó là chưa kể, cái kết nối khiến họ không thể đi mãi không về là gia đình, họ hàng, bạn bè thân thuộc đang còn ở Việt Nam.
GS Hà Huy Tài chia sẻ tâm sự rất thật: "Cuộc sống ở Mỹ rất tốt cho công việc, nhưng lại khá buồn tẻ và luôn phải chịu áp lực lớn vì tính cạnh tranh cao. Ngoài công việc ra thì tôi không thích cuộc sống bên Mỹ là mấy."
Tất nhiên, ai cũng hiểu, nhà khoa học Việt, bên cạnh môi trường làm việc tốt còn là sự mưu sinh mà phải tha hương. Nếu như đồng lương trong nước đảm bảo cuộc sống để yên tâm nghiên cứu thì chắc chắn, đã có rất nhiều nhà khoa học trở về. Nếu như chỉ cần cải thiện được thu nhập thì Việt Nam sẽ trở thành "vùng trũng tự nhiên" thu hút người con đất Việt.
  • tuyensinhvn.Com (Theo VNN)

10/06/2010

Giáo sư Ngô Bảo Châu và tình yêu với sách

“Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách”.
Xin trân trọng đăng bài của GS Ngô Bảo Châu viết theo yêu cầu của bà Muller-Marin - đại diện của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) tại Việt Nam cho Triển lãm Hồ Chí Minh và học tập suốt đời. Triển lãm đang diễn ra tại Hà Nội.
Giáo sư Ngô Bảo Châu và tình yêu với sách
Các đại biểu tham quan Triển lãm Hồ Chí Minh và học tập suốt đời
Vì lý do công việc, tôi hay phải dọn nhà. Cứ mỗi lần lại phải mất một vài tháng thì ngôi nhà mới xa lạ mới trở nên thân thuộc. Tôi để ý thấy thời điểm mà sự thân thuộc tăng đột biến là thời điểm khi tôi lấy sách từ trong thùng mang xếp lên kệ. Lúc xếp sách lên kệ là lúc quá khứ của ta ùa vào không gian của hiện tại.
Tôi có rất nhiều sách. Có sách đã đọc, có sách đã đọc vài lần, có sách đọc một nửa, còn có quyển mới chỉ đọc vài trang. Nhưng mất quyển sách nào là tôi biết ngay. Và tôi rất ghét các bạn mượn sách mà quên trả, trong khi bản thân tôi thì cũng đôi khi giả quên.
Những quyển sách cũ hình thù xộc xệch vì thời gian là những quyển mà tôi cảm thấy gắn bó nhất. Quyển này từng vác sang Ấn Độ vào mùa mưa, trang giấy hút ẩm đến quăn queo, không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu. Quyển này vì để cả tháng trên bàn làm việc ở trên tầng bốn tràn đầy ánh nắng trong ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Hà Nội, nên bìa đã phai màu. Nhìn những quyển sách úa đi đi với thời gian cũng thân thương như xem cha mẹ, người thân, bạn bè mỗi ngày một già.
Tôi không bao giờ viết hoặc bôi xanh bôi đỏ lên trang sách. Cũng như không bao giờ làm xấu bạn bè của mình.
Cuộc sống của mỗi người bị hạn chế trong không gian và trong thời gian. Mỗi người chỉ có thể sống một cuộc sống, tại mỗi thời điểm chỉ có thể có một vị trí. Trang sách chính là cửa sổ mở sang những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ánh sáng mặt trời dọi vào cuộc đời mình.
Đọc sách không chỉ để thỏa mãn cái ham muốn hiểu biết về vũ trụ và về cuộc sống, mà còn là cách để nuôi dưỡng sự ham muốn đó. Một câu hỏi được giải đáp sẽ mở ra hai câu hỏi mới cần được giải đáp và dắt tay ta đến những trang sách mới.
Không phải cái gì mình cũng tìm được trong sách, vì cuộc sống luôn rộng lớn hơn sách vở. Có thứ sách không dạy được ta, vì nếu chưa được cuộc đời cho ăn đòn thì ta chưa hiểu. Cũng có những chuyện nói ra thành lời thì dễ hơn viết.
Nhưng ngược lại ta có thể học bằng đọc sách nhiều hơn người ta tưởng. Nhiều chuyện khó nói ra bằng lời lắm. Quan hệ xã giao giữa con người với con người phải tuân theo mọt số quy định : cuộc sống hàng ngày của mỗi người đã đủ mêt mỏi, không nên hành hạ người khác về sự ray rứt của bản thân mình. Khi nói, mình muốn người khác phải nghe ngay. Khi viết, mình có thể để người ta đọc lúc nào cũng được. Chọn không đúng thời điểm, những thông điệp thiết tha nhất cũng trở nên lạc lõng. Lợi thế lớn nhất của sách là tính ổn định trong thời gian.
Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách.
tuyensinhvn.Com (ThichHocToan/DanTri))

9/12/2010

Ngô Bảo Châu sẽ đoạt ba giải "Nobel Toán học"?

Có lẽ ít người biết rằng, ngoài giải thưởng Fields danh giá, được ví với giải "Nobel Toán học", còn 2 giải thưởng khác trong lĩnh vực này cũng danh giá không kém: Đó là giải thưởng Wolf và giải thưởng Abel. 

Do không có giải Nobel cho các nhà Toán học nên bộ 3 giải Wolf Prize, Abel Prize và Fields Medal đều được xem là giải “Nobel Toán học”.


GS Ngô Bảo Châu trước "cú ăn ba" lịch sử?

GS Ngô Bảo Châu của Việt Nam sau khi chinh phục giải thưởng Fields , hoàn toàn có thể tiếp tục đạt được 2 giải thưởng còn lại trong năm 2010 này.

1. Giải Wolf cho Toán học

Wolf Prize là một bộ giải thưởng được trao bởi Quỹ Wolf (Wolf Foundation), bắt đầu từ năm 1978 cho các nhà khoa học và các nghệ sĩ. Giải Wolf hầu hết được trao hàng năm, hoặc đôi khi 2 năm một lần, dành cho 6 hạng mục: Nông nghiệp, Hóa học, Toán học, Y học, Vật lý và Nghệ thuật. Giải Wolf cho Nghệ thuật được xoay vòng giữa 4 lĩnh vực: kiến trúc, âm nhạc, hội họa và điêu khắc. Người được trao giải Wolf sẽ nhận được bằng chứng nhận và khoản tiền lên đến 100.000 USD.

Quỹ Wolf được thành lập từ năm 1976, với tổng ngân quỹ ban đầu là 10 triệu USD được tài trợ bởi gia đình Wolf. Người sáng lập quỹ này là Tiến sĩ Ricardo Wolf và vợ ông, bà Francisca.

Ricardo Wolf (1887-1981) có tên đầy đủ là Ricardo Subirana y Lobo Wolf. Ricardo Wolf sở hữu 3 quốc tịch Đức, Israel và Cuba. Ông sinh tại thành phố Hanover, Đức trong gia đình có 14 người con. Bố ông là Moritz Wolf, một lãnh tụ của cộng đồng Do Thái di cư sang Đức.

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Ricardo Wolf chuyển tới sinh sống ở Cuba, nơi trở thành quê hương thứ 2 của ông. Wolf là một nhà đầu tư và một nhà ngoại giao có tiếng. Năm 1924, ông kết hôn với nhà vô địch tennis những năm 1920 Francisca Subirana. Wolf là người ủng hộ Fidel Castro trong cuộc Cách mạng Cuba và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Cuba tại Israel từ năm 1961.

Các giải Wolf đều là những giải thưởng danh giá hàng đầu trong mỗi lĩnh vực xét giải. Giải Wolf trong Vật lý và Hóa học đều chỉ kém danh tiếng so với giải Nobel. Trong Y học, đó là giải thưởng uy tín thứ 3, sau giải Nobel và giải Lasker. Trong Nông nghiệp, nó được xem là giải “Nobel Nông nghiệp”.

Trong khi đó, ở lĩnh vực Toán học, giải Wolf và giải Fields đều được xem như giải “Nobel Toán học”, giải Fields uy tín hơn nhưng giải Wolf lại giống với giải Nobel hơn về mặt thể thức: Được trao hàng năm và không giới hạn tuổi của người chiến thắng.

Năm 2002, khi giải Abel ra đời thì giải Wolf, giải Fields và giải Abel được xem là bộ ba “Nobel Toán học”, trong đó mỗi giải có một ưu thế riêng trội hơn 2 giải còn lại.

Những nhà Toán học đầu tiên được trao giải Wolf là Israel Gelfand (Liên Xô) và Carl L. Siegel (Đức) vào năm 1978. Mỗi năm, Quỹ Wolf thường trao giải cho 2 người ở lĩnh vực Toán học (riêng năm 1994/5 chỉ có một mình Jürgen Moser được trao giải, năm 2008 có 3 người: Pierre Deligne, Phillip A. Griffiths và David B. Mumford). Trong một số năm, Quỹ Wolf không trao giải cho Toán học, gần đây là các năm 1998, 2004, 2009.

Dennis P. Sullivan và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.
Dennis P. Sullivan (trái) và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.

Đáng chú ý là có tới 12 nhà Toán học đoạt giải Wolf cũng từng nhận Huy chương Fields, giải thưởng mà GS Ngô Bảo Châu vừa nhận được tại Ấn Độ. 12 người đó là: Grigory Margulis (Nga), Sergei Novikov (Nga), Stephen Smale (Mỹ), Pierre Deligne (Bỉ), Jean-Pierre Serre (Pháp), Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ), Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Atle Selberg (Na Uy), Lars Ahlfors (Phần Lan), Shing-Tung Yau (Mỹ, Trung Quốc), David Mumford (Anh).

2. Giải Abel

Giải Abel (Abel Prize) là giải thưởng thường niên được nhà vua Na Uy trao cho một hoặc một vài nhà Toán học. Tên gọi của giải thưởng này được đặt theo tên của nhà Toán học Na Uy Niels Henrik Abel (1802-1829) - một thiên tài bạc mệnh, người qua đời ở tuổi 27 vì bệnh lao.

Giải Abel được công bố vào năm 2001 và bắt đầu được trao từ năm 2003 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thiên tài Abel. Mục đích của giải Abel khi ra đời là để khỏa lấp sự thiếu vắng của giải Nobel trong Toán học. Dù giải Fields trước đó đã được xem là tương đương với “Nobel Toán học”, nhưng chỉ được trao 4 năm một lần (giải Nobel được trao hàng năm) và với số tiền thưởng chỉ bằng 1% so với giải Nobel. Từ khi ra đời, giải Abel cũng được xem như giải “Nobel cho các nhà Toán học” (Mathematician’s Nobel).

Abel Prize cùng với Wolf Prize và Fields Medal hợp thành bộ ba giải thưởng danh giá nhất mà các nhà Toán học có thể đạt được. Giống như giải Nobel và giải Wolf, giải Abel không giới hạn độ tuổi của người đoạt giải. Ngoài ra, khoản tiền thưởng cho người nhận giải Abel cũng rất lớn, lên đến 6 triệu krone (tiền Na Uy). Ở thời điểm trao giải Abel năm 2010, khoản tiền này tương đương 740.000 euro hay 992.000 USD, không kém nhiều so với giải Nobel (khoảng 1,4 triệu USD).

Mục đích của giải Abel là để phổ biến Toán học và làm cho nhiều người yêu Toán học, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Theo điều lệ, hàng năm Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy công bố chủ nhân giải Abel sau cuộc tuyển chọn do một hội đồng gồm 5 nhà Toán học quốc tế tiến hành. Người đứng đầu hội đồng từ năm 2006 là Kristian Seip - nhà Toán học Na Uy và là cựu Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy. Ngân quỹ ban đầu để trao giải do chính phủ Na Uy cấp vào năm 2001 là 200 triệu krone (khoảng 23 triệu USD).

Lẽ ra, giải Abel phải được trao trước đó cả trăm năm. Năm 1897, nhà Toán học Na Uy Sophus Lie (1842-1899) là người đầu tiên đề xướng việc thành lập một giải thưởng tương đương với giải Nobel cho các nhà Toán học. Ở thời điểm đó, Na Uy và Thụy Điển vẫn còn nằm trong một liên bang và nhà vua Oscar II đã đồng ý tài trợ cho giải thưởng này. Năm 1902, ý tưởng thành lập giải thưởng mang tên Abel đã được đưa ra nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Thậm chí, các nhà Toán học Ludwig Sylow và Carl Størmer đã phác thảo những quy chế và luật lệ cho giải. Tuy nhiên sự tan rã của liên bang Thụy Điển - Na Uy năm 1905 đã kết thúc cố gắng đầu tiên để thành lập giải thưởng Abel.

Phải mất gần 100 năm sau, giải thưởng Abel mới chính thức ra đời vào tháng 5/2010. Tới tháng 8/2001, chính phủ Na Uy tuyên bố giải thưởng Abel đầu tiên sẽ được trao vào năm 2002 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh Abel. Tới tháng 4/2003, nhà Toán học Pháp Jean-Pierre Serre được công bố là người đầu tiên nhận giải Abel.

Tính đến nay, sau 8 năm giải Abel được vận hành, đã có 10 nhà Toán học được trao giải, trong đó có 5 nhà Toán học Mỹ và 3 người Pháp.

Ngoài ra, Na Uy còn giới thiệu bộ sách giới thiệu về các nhà Toán học đoạt giải Abel và công trình của họ, được phát hành 5 năm một lần. Cuốn sách đầu tiên giới thiệu các nhà Toán học đoạt giải trong 5 năm đầu (2003-2007) xuất bản vào năm 2007.


2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”

Trong số 10 nhà Toán học đoạt giải Abel, đã có 3 người trước đó từng đoạt Huy chương Fields (Jean-Pierre Serre - 2003, Michael F. Atiyah - 2004, John G. Thompson - 2008) và 7 người từng nhận giải Wolf (Jean-Pierre Serre, Peter D. Lax, Lennart Carleson, John G. Thompson, Jacques Tits, Mikhail Gromov, John Tate).

Như vậy, cho đến hiện tại chỉ có 2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”. GS Ngô Bảo Châu của chúng ta sẽ là người thứ 3?

tuyensinhvn.Com (VTC/VNN)