Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổ Quốc Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổ Quốc Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

9/30/2011

Vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long - một cách làm phản văn hóa

tuyensinhvn xin giới thiệu một góc nhìn khác của cựu nhà báo Trương Duy Nhất về cuộc vận động bầu chọn vịnh Hạ Long thành "kì quan mới". Bài viết đăng trên truongduynhat.vn:
Vịnh Hạ Long - kì quan mới?

Tôi tâm đắc với bài Vài điều suy nghĩ về cuộc “Bầu chọn vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới” của tác giả Hải Sơn đăng trên Viet-studies.info. Cách bầu chọn chẳng những “không trung thực, không khách quan, như... đang “gian lận” trong cuộc chơi và nặng nề “bệnh háo danh”, mà có gì đó như là một cách làm phản văn hóa.

Có nhiều cách để quảng bá, không nhất thiết cứ phải chui vào các “vườn” di sản với kỳ quan ấy mới hút được sự quan tâm của thiên hạ. “Hữu xạ tự nhiên hương”, cái hương tự nhiên mới đáng là di sản, chứ không phải do ta cố sơn phết vào.

Hạ Long đã là di sản, cố khoác thêm cái “kỳ quan mới” cũng không làm nó đẹp hơn, kỳ vĩ hơn. Hãy làm cho Hạ Long đẹp chứ không phải hãy bầu chọn cho nó, mà ngay khi bấm nút bầu xong lại quay ra thản nhiên vứt rác và... tè xuống biển.

Nhân chuyện “kỳ quan mới” của tổ chức New Open World, ngẫm lại các di sản đã được UNESCO công nhận trong thời gian qua không thể không đặt câu hỏi: Liệu có cần nhiều di sản đến thế, tiêu chí cho di sản liệu có quá dễ dãi và mục tiêu thật sự của UNESCO trong việc di sản hóa tràn lan như vậy là gì?

Tôi sinh ra và lớn lên tại quê Gióng, nhưng quả thật đến giờ vẫn không hiểu sao cái gọi là “hội Gióng” kia lại thành di sản, mà là di sản thế giới mới khiếp! Cũng như tôi không hiểu vì sao, di sản gì ở cái “nhã nhạc cung đình Huế” mà thật sự theo tôi chỉ là một thứ nhạc cúng.

Cái gì nhiều quá cũng mất thiêng. Ban đầu khi nghe Hạ Long, Huế, Hội An, Mỹ Sơn... thành di sản, tôi cũng thoáng tự hào, mừng vui hồ hởi với cái vui của một... công dân di sản. Nhưng rồi sau này thấy nhiều thứ thành di sản quá, đâm mất hẳn cái cảm hứng háo hức hồ hởi.

Có thể, những suy ngẫm này của tôi sẽ nhận đòn từ các nhà văn hóa. Tuy nhiên, phải nói thật rằng chúng ta đang sa vào quá nhiều những danh hiệu hão, thậm chí cố công đoạt lấy danh hiệu bằng cả các phương cách rất phản văn hóa.

Cả chúng ta, và UNESCO nữa, nên xem ngẫm lại một cách tỉnh táo hơn về những “chiến dịch” di sản vừa rồi. Có thể rồi mỗi năm, chúng ta sẽ còn trống giong cờ mở đón nhận thêm nhiều di sản nữa, nhưng tôi không thích, không chờ mong, thậm chí sợ khi nay mai đất nước này bỗng chốc ra đường gặp di sản!

Trương Duy Nhất

Xem thêm: Có nên bình chọn cho Vịnh Hạ Long nữa không? / Tại sao không nên bình chọn cho Vịnh Hạ Long?

1/30/2011

Quốc hoa Việt Nam - tại sao không phải là bông lúa?

Mấy ngày gần đây, người ta bàn tán nhiều về chuyện quốc hoa của Việt Nam. Có ý kiến đề xuất chọn hoa sen làm hoa đại diện và người ta còn tổ chức cả "đêm hội hoa sen" để PR cho loài hoa này. Tuy nhiên, đọc bài viết dưới đây ta sẽ thấy có một ứng viên xứng đáng hơn hoa sen!
quoc hoa viet nam, bong lua
Bông lúa sẽ là Quốc hoa Việt nam?
Đi khắp Việt Nam bốn mùa hoa rực rỡ, chẳng phải quốc gia nào trên thế giới cũng được thiên nhiên ưu đãi nhiều đến thế! Hoa sen Đồng Tháp - Cửu Long, hoa mai vàng Nam Bộ, hoa cà phê Tây Nguyên, hoa hải đường xứ Huế, hoa đào Hà Nội - Sa Pa, hoa gạo xứ Đoài, hoa phượng Hải Phòng, hoa hồi Lạng Sơn, hoa mận Tây Bắc, hoa ban Điện Biên và cả một thành phố Đà Lạt nổi tiếng với các loại hoa lan, hoa hồng, hoa cẩm tú cầu, hoa mimosa, hoa trà my, hoa đỗ quyên…

Hoa nào cũng đẹp, hoa nào cũng mang đậm bản sắc từng vùng miền, trở thành dấu ấn khó phai trong lòng du khách ghé thăm và người tha hương thì bồi hồi da diết nhớ!

Ngay cả hoa dại Việt Nam cũng đẹp, có những bông hoa dại mà hình ảnh của nó đã gắn liền với quê hương xứ sở, đã đi vào thơ ca, đã in sâu trong lòng người dân Việt. Ai đã từng lớn lên cùng sông nước miền Tây khi đi xa chẳng rưng rưng nhớ bông điên điển, bông lục bình. Ai gắn bó với cao nguyên chẳng xốn xang nhớ những vạt dã quỳ vàng rực rỡ dưới trời thu xanh ngắt. Ai yêu vùng biên giới Đông Bắc chẳng lưu luyến nhớ những triền đồi hoa sim, hoa mua tím ngát mênh mang…

Quốc hoa là một từ chỉ khái niệm “hoa đại diện cho quốc gia”, còn thực tế quốc hoa không nhất thiết phải là hoa.

Quốc hoa hoàn toàn có thể là lá (như lá phong của Canada), là cây, là quả, là hạt… Miễn sao hình ảnh của nó truyền tải được cái tên quốc gia một cách sâu sắc nhất, chuẩn xác nhất.

Nhìn chiếc lá phong người ta hiểu “nước Canada”, nhìn bông mẫu đơn (loại mẫu đơn gắn trên mũ của “Hoàn Châu cách cách”) người ta hiểu “nước Trung Hoa”. Nhìn bông sen chắc chắn người ta hiểu “nước Ấn Độ”...

Để lựa chọn chính xác chúng ta phải hiểu được giá trị và ý nghĩa của quốc hoa :

- Là loại hoa (lá, cây, hạt, quả, hạt…) mang hình ảnh đất nước Việt Nam - nhất định là Việt Nam chứ không thể nhầm lẫn với bất kỳ quốc gia nào khác. Nhìn thấy loại hoa đó là người ta nghĩ ngay đến Việt Nam. Đến Việt Nam là nhìn thấy loại hoa đó.

- Là loại hoa (lá, cây, hạt, quả, hạt…) gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nước Việt Nam trong mọi lĩnh vực – trong đời sống nhân dân từ ngàn xưa đến nay, trong bản sắc văn hóa và truyền thống, trong kinh tế và du lịch, trong các lễ hội, trong nghệ thuật… trong lĩnh vực nào loại hoa đó cũng được ngợi ca, trân trọng, tôn vinh.

- Là loại hoa (lá, cây, hạt, quả, hạt…) mang đặc trưng hồn Việt Nam - có tạo hình, màu sắc, hương thơm đã in sâu vào tâm trí người Việt. Cho dù đi khắp năm châu chỉ cần nhìn thấy bông hoa đó, ngửi thấy mùi hương đó… là thấy hồn quê hương đất nước xúc động ùa về.

- Là loại hoa (lá, cây, hạt, quả, hạt…) mang phẩm chất con người Việt Nam, cho khát vọng và ước mơ của người Việt Nam. Mang lại hạnh phúc, tự hào, vinh quang cho người dân Việt Nam với bạn bè quốc tế.

- Là loại hoa (lá, cây, hạt, quả, hạt…) có vẻ đẹp Việt Nam, hương thơm Việt Nam: đẹp khi tạo hình nghệ thuật (đen trắng, màu, khắc nổi, khắc chìm…) Đẹp khi đứng một mình, đẹp khi đứng một bó, đẹp khi cả một cánh đồng mênh mông… Đẹp khi còn non, khi trưởng thành, khi đơm bông, khi kết trái. Đẹp khi ở đồng bằng, đẹp khi ở miền núi, đẹp khi ở ven sông, đẹp khi ở ven biển… ở đâu cũng khiến người ta phải trầm trồ và rút máy ảnh ra chụp. Và đặc biệt là hương thơm của loại hoa đó cũng rất Việt Nam.

Và cây hoa đó ở Việt Nam chỉ có thể là CÂY LÚA NƯỚC - Bông hoa đó là BÔNG LÚA NƯỚC !

Lúa thơm từ lúc còn là ruộng mạ non xanh mướt, rồi khi lúa trổ đòng đòng, khi lúa ra hoa, khi những hạt non ngậm sữa, khi lúa chín vàng trĩu nặng cả bông, khi rơm rạ phơi nắng, khi mùi khói lam chiều, khi bát cơm thơm dẻo, khi gói cốm xanh mềm, khi đĩa xôi vừa chín, khi bánh chưng, bánh ú, bánh nếp, bánh bèo, khi bún, phở, bánh đa, bánh tráng... Bất kể khi nào lúa cũng ngát hương thơm riêng của mình, ngọt ngào và sâu lắng. Lúa kết tinh hương thơm của đất, của trời và cả những “giọt mồ hôi sa” của tình người cày cấy sớm hôm. Hương thơm của lúa gợi nhớ đến quê hương đất nước Việt Nam và làm rung động tâm hồn người Việt mọi thời đại.

Người nghệ sĩ viết nên các bài hát, bài thơ về cây lúa bao giờ cũng tràn trề cảm xúc trân trọng và yêu thương tha thiết:

Em hát câu ca ấy, lúa mùa này đơm bông
Hạnh phúc trên đôi tay, nơi anh đã gieo mầm… (Làng lúa, làng hoa)

Đồng xanh lúa rập rờn biển cả
Tiếng ai ru con ngủ ru hời
Đồng xanh lúa thẳng cánh bay cò bay… (Việt Nam quê hương tôi)

Lúa tháng 5 kén tằm vàng óng
Hạt khô giòn đem đóng thuế nông… (Lúa tháng 5)

Năm tấn thóc cả nước cùng đánh Mỹ… (Bài ca năm tấn)

Đôi ta yêu nhau cho lúa xanh màu
Cho thuyền vượt biển muôn trùng băng qua… (Tình ta biển bạc đồng xanh)

Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần… (Bầm ơi)

Đồng quê hôm nay vui, vui với thóc lúa mới
Cho bõ công cày cấy bao ngày mong chờ !
Chàng trai xay xay xay, thôn nữ giã giã giã
Em bé đưa miệng cắn đôi hạt lúa vàng… (Bức họa đồng quê)

Ngày mùa vui thôn trang, lúa reo như hát mừng.
Lúa không lo giặc về khi mùa vàng thôn quê.
Ngày mùa vui thôn xóm, đầy đồng giáo với gươm,
Súng tì tay anh đứng, em ngừng liềm trông sang… (Ngày mùa)

Ở đâu trên đất nước Việt Nam cũng ngập tràn những thảm lúa tươi đẹp nên thơ. Từ thửa ruộng bậc thang vùng Tây Bắc đến cánh đồng thẳng cánh cò bay Nam Bộ. Từ đồng quê êm đềm bên lũy tre xanh miền Bắc đến dải lụa dọc suốt miền Trung biển xanh cát trắng… Đồng lúa nào cũng có sắc thái đặc trưng và đồng lúa nào cũng mang vẻ đẹp riêng của Việt Nam, rất rất Việt Nam. Đặc biệt là Tây Bắc với rừng núi uốn lượn trập trùng lớp lớp ruộng bậc thang đã trở thành một điểm nhấn thu hút khách du lịch cả trong nước và quốc tế đến với Sa Pa, Mộc Châu, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái…

Cây lúa mỏng manh giản dị nhưng chứa đầy sức sống và nghị lực bất khuất kiên cường. Từ hạt thóc nhỏ xíu lúa vượt bùn đứng lên, rễ bám vào đất mẹ, gốc uống ngập phù sa, lá vút lên mạnh mẽ sắc nhọn, bông hút khí trời và tỏa hương thơm thảo dạt dào, luôn hết mình hiến dâng cho đời. Cây lúa là hiện thân của ước mơ no ấm, hạnh phúc, bình yên – đó chẳng phải là những khát vọng chân chính, trong sáng và cao đẹp của người Việt hay sao? Đó chẳng phải là những giá trị cốt lõi và đích thực của thế gian hay sao? Bao đời nay cha ông ta đã đổ bao xương máu hy sinh để gìn giữ non sông, giành lại ruộng đất, bảo vệ cây lúa quê hương. Cây lúa đã được các thế hệ đi trước chọn in lên quốc huy cũng chính bởi ý nghĩa sâu sắc này.

Không phải quốc hoa nào trên thế giới cũng có thể đem cắm thành một bình hoa tươi để trang trí. Tiêu chuẩn này không cần thiết, vì hoa nào cũng có mùa và các loại hoa thân gỗ như anh đào (Nhật), chămpa (Lào), mẫu đơn (loại mẫu đơn trên mũ Hoàn Châu cách cách - Trung Quốc), dâm bụt (Malaisia), hoa muồng hoàng yến (còn gọi là lan nữ hoàng, bò cạp nước - Thái Lan)… cũng không đáp ứng được tiêu chí này. Thay vào đó người ta sử dụng những bức tranh, bức ảnh hay biểu tượng nghệ thuật khác để giới thiệu hình ảnh quốc hoa trong phòng khách. Và hình ảnh cây lúa không chỉ là khát vọng no ấm và bình yên mà còn gắn liền với nụ cười hân hoan được mùa của người nông dân Việt Nam - một nụ cười hạnh phúc thực sự, không cần gượng ép tạo dáng.

Hiện nay có nhiều ý kiến nghiêng về hoa sen hồng. Thực ra hoa sen là “Phật hoa” và các nước có đạo Phật đều yêu hoa sen, ca ngợi hoa sen, tôn vinh hoa sen vào top hoa cao quý nhưng cũng không chọn sen làm quốc hoa (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật, Malaisia… ). Ấn Độ đã chọn sen làm quốc hoa là rất chuẩn xác bởi nhìn hoa sen (bất kể màu gì, bất kể ở đâu) người ta sẽ liên tưởng đến đức Phật, đến Phật giáo, đến Ấn Độ - quê hương của đức Phật và cũng là nơi hình thành và phát triển đạo Phật.

Ở nước ta hoa sen còn là hình ảnh mùa hè, cũng như hoa cúc là đại diện mùa thu, hoa đào (hoa mai) là hình ảnh mùa xuân. Có thể nói hoa sen có nhiều ý nghĩa trong đời sống nhân dân ta ở khía cạnh nghệ thuật, hình ảnh ví von so sánh… cũng như hoa đào, hoa mai, hoa cúc, cây trúc, cây tùng, cây lựu. Hoa sen có thêm ý nghĩa tâm linh nhưng là ý nghĩa chung của tất cả các quốc gia theo đạo Phật, không phải dấu ấn riêng của nước ta.

Ông cha tổ tiên chúng ta từ ngàn xưa đã tôn vinh cây lúa, coi cây lúa là vấn đề hàng đầu của cả dân tộc. Bằng chứng là các lễ hội cày cấy (lễ Hạ điền), lễ hội khi thu hoạch mùa (lễ Thượng điền), Tết cơm mới, lễ tạ ơn trời đất và cầu xin mưa gió thuận hòa cho mùa màng bội thu… đến nay vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi. Đất nước ta không thể thiếu cây lúa nước, chính cây lúa ấy đã nuôi nấng nhân dân ta, tạo ra tổ quốc ta. Cây lúa đã đi vào mọi mặt của đời sống, văn hóa, vật chất, tinh thần của người Việt bao đời nay – đời thường mà cao quý, mộc mạc mà thiêng liêng, khiêm tốn mà mạnh mẽ, bé nhỏ mà vĩ đại, yêu thương và dâng hiến – đích thực là quốc hoa của Việt Nam !

Cây lúa mang trong mình dấu vết dân tộc từ thủa sơ khai và thủy chung đến tận bây giờ. Các vua Hùng khai sinh đất nước đã chọn bánh chưng, bánh dày làm lễ vật thiêng liêng đại diện cho nhân dân mình, tổ quốc mình – đó chẳng phải là sự tôn vinh cây lúa hay sao ? Hàng năm chúng ta vẫn coi ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 âm lịch là ngày quốc giỗ (quốc lễ) trọng đại của đất nước. Vậy thì cớ gì mà BÔNG LÚA – CÂY LÚA không phải là Quốc Hoa của Việt Nam chúng ta ?

Có thể khẳng định rằng : Bông lúa, cây lúa đã là quốc hoa của Việt Nam từ ngàn xưa ! Nếu bây giờ lúa được đầu tư tốt hơn, phát triển tốt hơn thì người nông dân hạnh phúc biết chừng nào, đất nước giàu đẹp và vinh quang biết chừng nào !
Út Rơm

10/19/2010

Người Việt thông minh đến đâu?

Thật khó phán xét trí thông minh của một người, chưa muốn suy rộng ra sự thông minh của cả một cộng đồng, một chủng tộc, một dân tộc. Bởi thông minh có thể có rất nhiều loại.

Thông minh và những khái niệm khác biệt
Xưa kia, trong những câu chuyện kể, các thần đồng ở nước ta được coi là thông minh xuất chúng qua những câu ứng đối, "xuất khẩu thành thi" và nhất là đối ngay được một vế đối đặt ra ("xuất đối dị, đối đối nam" mà!), kể cả những câu đối bằng chữ Hán phức tạp bao gồm cả chiết tự, điển tích...
Cách kiểm tra ấy tuy không tính thành điểm cụ thể nhưng có thể coi là kiểu xác định IQ của ta. Nhiều sự nghiệp của một danh nhân chúng ta chẳng biết được gì hơn, ngoài khoảng một chục đôi câu đối "để đời". Điều này cũng tương tự với việc đo chỉ số IQ ở chỗ là so sánh sự phát triển trí tuệ vượt trội của những người cùng lứa tuổi (IQ vốn là thương số thông minh, xác định tỷ số giữa tuổi trí tuệ và tuổi sinh học).
Cũng theo truyền thuyết này, nhiều "thần đồng" giỏi ứng đối ấy thường là những vị đỗ đầu (tức Trạng nguyên) trong cuộc thi tuyển của Triều đình, thậm chí ngay khi còn ở lứa tuổi thiếu niên, mới 13, 14 tuổi đã "cưỡi cổ" thiên hạ.
Người Việt thông minh đến đâu?
Trạng Lường Lương Thế Vinh
Thông minh đôi khi có thể đánh giá qua sự nhanh trí giải quyết một vần đề cụ thể. Có thể lấy Trạng Lường Lương Thế Vinh (1441-1495) làm ví dụ. Từ hồi nhỏ, ông đã tìm được cách đổ nước để lấy quả bưởi trong hố lên, sau này khi đã là Trạng, nổi tiếng cả ở Trung Quốc, đã giải những bài toán kiểu "cân voi", "xác định chiều dày một tờ giấy" theo thách đố của sứ Tàu (mà những bài toán kiểu này chắc các em lớp 3, lớp 4 ngày nay cũng nghĩ ra ngay)...
Theo sử liệu, ông là tác giả của tác phẩm là "Đại thành toán pháp", được nói đến như sách giáo khoa cho các sĩ tử suốt mấy trăm năm (?). Nhưng bản thảo đã thất truyền khiến ta không thể bíết đó có phải những phát minh về Toán học (hoặc chỉ là những tổng kết) và ở mức độ nào trong lịch sử Toán học thế giới.
Cùng năm sinh với Lương Thế Vinh, còn có Vũ Hữu, được vua Lê Thánh Tông khen là "Thần toán", viết cuốn "Lập thành toán pháp" cũng thất truyền, nói về cách đo tính ruộng đất rất phổ biến trong toàn quốc.
Hiểu "thế nào là thông minh" khác nhau khá nhiều từ Đông sang Tây. Khoa học hiện đại dù bộ môn Thần kinh học rất phát triển: Đo điện não đồ, quét não, chụp não, xác định tốc độ truyền dẫn thần kinh, rồi khám phá bản đồ gen để biết tập hợp những nhóm ADN nào liên quan đến khả năng gì... vẫn chẳng thể cho ta một câu trả lời rõ ràng, thuyết phục.
Những tranh luận xung quanh trí thông minh đã, đang và sẽ tốn không biết bao nhiêu thời gian và giấy mực nữa, song dù chưa có những nhất trí, người ta vẫn tuyển chọn, bồi dưỡng và thu hút được nhân tài với những thành công đáng kể và thu được những hiệu quả xã hội lớn.


9 kiểu thông minh và "những nhà bác học ngốc nghếch"
Theo phân loại của Giáo sư Tâm lý học Howard Gardner (Hoa Kỳ) được nhiều người thừa nhận (và thường gọi là thuyết đa thông minh - theory of multiple intelligences), có ít nhất 7 kiểu thông minh (thông minh về lời nói, ngôn ngữ; thông minh về logic, toán học; thông minh về thị giác, không gian; thông minh về âm nhạc; thông minh về cơ thể, cử chỉ; thông minh về xã hội, giao tiếp; thông minh về nội tâm). Sau này, người ta còn bổ sung thêm hai kiểu thông minh nữa là trí thông minh thiên nhiên và trí thông minh sinh tồn.
Cách phân chia như vậy dường như không có sự phân biệt giữa 2 khái niệm "thông minh" và "năng khiếu". Mà theo cách hiểu thông thường một số dạng thông minh mà Gardner nói đến chỉ là năng khiếu mà thôi.
Vả chăng, trong ngôn ngữ học, đôi khi không có những từ ngữ đối chiếu hoàn toàn tương đương nên nếu đi sâu hơn nữa sẽ không tránh khỏi những tranh luận kéo dài.
Việt Nam sử lược của học giả Trần Trọng Kim (viết năm 1919, cách đây gần một thế kỷ) đã nhận xét: "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả tính xấu lẫn tính tốt. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân, lễ, nghĩa, trí tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt và hay bài bác, nhạo chế".
Nếu quả thực về đàng trí tuệ, nếu "trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, ..., sàng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức", thì đó mới chỉ là những lợi điểm có thế phát huy ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Học hành để tích luỹ kiến thức, dùng cho giai đoạn chủ yếu của cuộc đời là làm việc, gây dựng sự nghiệp, nuôi sống gia đình, đóng góp cho xã hội. Chính tại giai đoạn chủ yếu này, trí thông minh thể hiện rõ nét và phát huy.
Lại còn những trường hợp những người bị tự kỷ (autisme) khó mà đánh giá là người thông minh mà ngược lại (theo cách nghĩ thông thường) nhưng lại trở thành những danh họa, những nhạc công tuyệt với, chỉ nghe một bản giao hưởng một lần là nhớ hoặc từ trên máy bay, bay ngang qua một thành phố lớn, trở về có thể vẽ lại từng vị trí, hình dáng các công trình kiến trúc hoàn toàn chính xác. Hiện tượng đó, các nhà tâm lý gọi là "hội chứng các nhà bác học ngốc nghếch". Nhà phát minh thiên tài của nhân loại (tất nhiên, một đầu óc sáng tạo khủng khiếp) là Edison thuở nhỏ chẳng bị đuổi học vì "không có khả năng học tập" đó sao? Rồi Einstein thuở nhỏ nghe nói cũng bị tự kỷ.
Mỗi kiểu thông minh theo phân loại trên có những phẩm chất và khả năng cơ bản, có thể có hoặc không liên hệ với nhau. Mỗi kiểu có một vùng khác nhau trên não bộ phụ trách (?) và đều có thể cải tạo, phát huy.
Cách phân loại ấy có thể giải thích thoả đáng vì sao một người học hành rất dở nhưng lại thành công trong kinh doanh hoặc trên chính trường. Vì sao một thiên tài toán học đầy đủ các bằng cấp, danh hiệu, giải thưởng, song khi đặt vào vị trí lãnh đạo một viện Toán lại để cho cơ quan bí bét, rối beng.
Người ta đã từng vận dụng cách phân loại này để hướng nghiệp cho học sinh, nhằm sắp xếp "người nào việc ấy", "dụng nhân như dụng mộc", "hạn chế sở đoản, phát huy sở trường" làm lợi cho bản thân người lao động, tăng hiệu quả phục vụ xã hội.
Cũng như vậy, để tuyển những người hoạt động trong lĩnh vực trí tuệ như hoạt động khoa học chẳng hạn, cần lựa chọn những người nổi trội về trí thông minh logic, sáng tạo... Đó là những người có khả năng tiếp thu những kiến thức mới nhanh, nhạy cảm, chính xác và có khả năng tự tìm ra những kiến thức mới (khả năng khai phá) trong từng vấn đề cụ thể, và trí thông minh theo cách hiểu thông thường thuộc loại này.
Người Việt thông minh đến đâu?
Albert Einstein

Hiện tượng thông minh của người Do Thái
Nếu trí thông minh có tính cá nhân, thì chủng tộc, cộng đồng và cả một dân tộc có vai trò gì không? Nói cách khác, có chủng tộc nào có trí thông minh vượt trội không? Khẳng định điều này rất dễ rơi vào "thuyết ưu sinh" của chủ nghĩa quốc xã Đức.
Năm 1994, tác phẩm "Đường cong hình quả chuông" của hai tác giả Herrstein và Muray, trên cơ sở phân tích chỉ số IQ đã rút ra một loạt kết luận khi áp dụng vào xã hội, không những chỉ gây tiếng vang rộng rãi trong giới khoa học mà còn bị phản ứng gay gắt của quần chúng đối với nó. Thậm chí các tác giả còn bị lên án là "phân biệt chủng tộc" khi đề cập đến trí thông minh của các cộng đồng trong một xã hội.
Nếu quả thật trí thông minh bị tách rời khỏi chủng tộc, tại sao khi GS Ngô Bảo Châu được giải Toán học Fields tầm cỡ lớn của quốc tế, từ các lãnh đạo cao cấp đến báo chí đều nói "điều đó chứng tỏ "trí tuệ của dân tộc Việt Nam" không hề thua kém"?
Lại nữa, trong cuộc tranh luận của Quốc hội, liệu có nên đường sắt cao tốc không, một vị đại biểu nói "những nước có chỉ số IQ cao đều làm đường sắt cao tốc". Nói như vậy có hàm ý trí thông minh có gắn với dân tộc hay không? Chắc chắn là có hàm ý ấy.
Những thống kê về tỷ lệ các giải thưởng quốc tế như giải Nobel, giải Fields... mà người "gốc Do Thái" sở hữu, những nhân vật gốc Do Thái đứng đầu các ngành văn học, nghệ thuật và cả chính trường nữa buộc ta phải suy nghĩ đến sự liên quan giữa trí thông minh và chủng tộc.
Song từ thông minh đi đến thành công thì còn phải đòi hỏi nhiều điều kiện nữa, bao gồm cái tạm gọi là "nội lực" (phẩm chất cá nhân) và "ngoại lực" (môi trường và diều kiện làm việc).
Tuy nhiên, không thể nói dân tộc nào thông minh hơn dân tộc nào vì thế giới phát triển không đồng đều vì khoảng cách giữa các nước quá chênh lệch và ngày càng chênh lệch, khiến chẳng bao giờ mọi người được bình đẳng về điều kiện sống và làm việc.
Người Việt thông minh đến đâu?
Từ thông minh đi đến thành công thì còn phải đòi hỏi nhiều điều kiện

Người Việt Nam có thông minh không ? 

"Người Việt Nam rất thông minh, cần cù lao động", "đất nước ta rừng vàng biển bạc, ruộng đất phì nhiêu, tài nguyên đa dạng và phong phú"... Đó là những điều chúng ta được dạy dỗ từ khi bắt đầu cắp sách đến trường, được nói đến trong những cuốn sách giáo khoa dùng cho học sinh và tự giới thiệu ra nước ngoài.
Tuy vậy cũng có những quyển sách viết dè dặt hơn. Chẳng hạn Việt Nam sử lược của học giả Trần Trọng Kim (viết năm 1919, cách đây gần một thế kỷ) đã nhận xét: "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả tính xấu lẫn tính tốt. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân, lễ, nghĩa, trí tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt và hay bài bác, nhạo chế".
Nếu quả thực về đàng trí tuệ, nếu "trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, ..., sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức", thì đó mới chỉ là những lợi điểm có thế phát huy ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Học hành để tích luỹ kiến thức, dùng cho giai đoạn chủ yếu của cuộc đời là làm việc, gây dựng sự nghiệp, nuôi sống gia đình, đóng góp cho xã hội. Chính tại giai đoạn chủ yếu này, trí thông minh thể hiện rõ nét và phát huy.
Bằng sự trải nghiệm của một người đã làm công tác nghiên cứu khoa học ở tuổi ngoài 70 và cố gắng khách quan, không e ngại ý kiến của mình có thể đụng chạm, tôi xin đưa ra một nhận định cá nhân. Đó là: Người Việt chỉ thông minh vừa phải mà không thuộc loại thật xuất sắc.

tuyensinhvn.Com (Theo Tuần Việt Nam)