Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học và Thực tiễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học và Thực tiễn. Hiển thị tất cả bài đăng

3/01/2012

"Làm toán" là làm cái gì???


1) Nghiên cứu toán học là khám phá:

Các phương trình toán học là có sẵn trong tự nhiên, các nhà toán học (hay vật lý học) chỉ khám phá ra mà thôi. Giống như định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Nếu Newton không phát biểu định luật vạn vật hấp dẫn thì trái táo vẫn rơi, một ngàn năm trước cũng như là một ngàn năm sau cái ngày quả táo rơi lên đầu Newton. Các phương trình
cơ chất lỏng như Navier-Stokes cũng vậy. Nước vẫn chảy, mây vẫn trôi nếu như các ông Navier và Stokes ông không phát biểu ra các phương trình đó.

2) Nghiên cứu toán học là phát minh:

Các lý thuyết toán là do các nhà toán học nghĩ ra. Có lẽ điều này đúng với toán lý thuyết và vật lý lý thuyết. Lý thuyết tích phân là do Riemann nghĩ ra để tính diện tích bên dưới một đồ thị. Lý thuyết về độ đo của Lebesgue dùng để tích phân các hàm số tổng quát hơn. Các lý thuyết về tồn tại và duy nhất của các nghiệm của các phương trình vi phân giúp các nhà toán học ứng dụng tự tin hơn khi đi tìm nghiệm xấp xỉ bằng số.

3) “Làm toán” là làm gì:

Như vậy là quá trình “làm toán” là làm gì? Người nông dân “làm ruộng” là cày bừa, gieo hạt, tưới cây, bón phân rồi chờ ngày lúa trổ bông mà thu hoạch. Người công nhân đi “làm nhà máy” là đi vào cơ xưởng, vận hành máy tiện, máy hàn, máy cắt để làm ra những sản phẩm tiêu dùng hay cho các ngành công nghiệp khác. Theo quan điểm cá nhân của tôi, “làm toán” là quá trình tìm tòi để khám phá và phát minh ra cái mới cho toán học nói riêng và cho khoa học nói chung. “Làm toán” cần tới quá trình gieo hạt: một người thầy nào đó gợi cho mình ý tưởng tìm tòi về toán học. Rồi sau đó là quá trình bón phân, tưới cây: đọc các bài báo đã được xuất bản, đi nghe seminar, đi dự các lớp học, đạt được bằng cấp này nọ… Và quá trình thu hoạch là các công trình mới được xuất bản trên các tạp chí toán học trên thế giới…

4) Toán học có lợi gì cho xã hội:

Người nông dân làm ra lúa gạo để muôn người được ăn no, người công nhân làm ra vật dụng tiêu dùng hàng ngày. Nhưng rồi ăn uống đã no đủ, đồ đạc sử dụng đã thừa mứa, thì xã hội phát triển những nhu cầu cao hơn: chinh phục các vùng đất mới hay là chinh phục vũ trụ. Những nhu cầu mới này đòi hỏi việc xây dựng các con thuyền lớn có khả năng vượt đại dương, những tàu vũ trụ có thể bay lên các vì sao… Để làm được điều này người ta cần phải phát triển khoa học và kỹ thuật mà toán học là một trong các ngành mũi nhọn.

Nguồn: Lê Gia Quốc Thống (GVietmath)

2/27/2012

Từ văn học dân gian đến Toán học hiện đại

Có nhiều vấn đề lớn của toán học hiện đại thực ra đã xuất hiện trong những chuyện dân gian. Chẳng hạn, câu chuyện vui anh chồng tham ăn được bà vợ dùng sợi dây điều khiển, mà hầu như người Việt Nam nào cũng đã từng ít nhất một lần nghe kể, nếu phân tích kĩ sẽ thấy là một bài giảng nhập môn tuyệt vời về Lí thuyết thông tin.

Xưa, một bà vợ có anh chồng rất tham ăn. Tính tham ăn của anh chồng khiến chị vợ nhiều phen xấu hổ. Chị bèn nghĩ ra một kế. Nhân ngày Tết về bên ngoại ăn cỗ, chị ngồi dưới bếp, buộc một sợi dây vào tay chồng và dặn rằng, khi nào chị giật dây một cái thì mới được gắp một miếng. Hôm đó, mọi người ngạc nhiên vì thấy anh chồng ăn uống rất từ tốn. Nào ngờ, chỉ được chừng nửa bữa thì có một chú gà trống chạy qua, mắc chân vào dây. Anh chồng tham ăn được thể gắp lia lịa ( theo nhịp dãy chân của chú gà) ! Mẹo hay của chị vợ thế là bị hỏng.

Vấn đề của Lí thuyết thông tin đặt ra trong câu chuyện này là: làm thế nào để mưu kế của chị vợ thành công ngay cả khi không may có chú gà mắc vào dây? Đó chính là một trong những bài toán khó nhất của toán học hiện đại.

Ta thử hình dung một hệ thống điển hình của lí thuyết thông tin: trước hết, ta có một trung tâm điều khiển, trong trường hợp này là chị vợ. Sau đó là một trung tâm nhận thông tin, chính là chàng tham ăn. Thông tin được truyền qua một kênh truyền tin, chính là sợi dây. Các thông tin được truyền qua kênh truyền tin bằng các tín hiệu, trong trường hợp này là giật dây. Thông tin luôn được truyền dưới dạng mã hoá, ở đây chị vợ đã mã hoá thông tin như sau: giật một cái- gắp một miếng.

Nhưng, một kênh truyền tin, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể tuyệt đối chính xác: trung tâm thu nhận thông tin không bao giờ nhận được hoàn toàn chính xác thông tin mà trung tâm điều khiển truyền đi, mà thường bị một nhiễu nào đó. Cái nhiễu mà kênh truyền tin của chị vợ mắc phải chính là con gà tai hại! Vấn đề đặt ra cho chị vợ, cũng như cho lí thuyết thông tin là: làm thế nào để ngay cả khi bị nhiễu, ta vẫn không đi đến kết quả quá tồi tệ? Nói một cách “hàn lâm” là: làm thế nào để tăng độ tin cậy của kênh truyền tin?

Nếu như quy định của chị vợ không phải là “giật một cái – gắp một miếng” mà là “giật 20 cái – gắp một miếng” thì dù có cái nhiễu là con gà, anh chồng chắc cũng không đến nỗi mang tiếng quá tham ăn! Làm như thế, trong lí thuyết thông tin gọi là tăng độ thừa để bảo đảm độ tin cậy. Độ thừa ở đây là: lẽ ra chỉ cần giật dây một lần là đủ truyền lệnh gắp một miếng, thì ta phải giật những 20 lần! Nếu chị vợ quá cẩn thận đến mức quy định: giật 100 lần mới gắp một miếng, thì chắc anh chồng được tiếng rất lịch sự, nhưng cũng sẽ mang bụng đói về nhà. Vấn đề nan giải của lí thuyết thông tin chính là ở chỗ đó: nếu tăng độ thừa để đảm bảo độ tin cậy, thì sẽ bị ảnh hưởng đến tốc độ truyền tin. Trong thực tế, một thông tin chính xác nhưng đến quá muộn có thể là một thông tin vô ích. Vậy, chị vợ nên quy định giật bao nhiêu lần thì anh chồng được gắp một miếng, để sao cho anh ta vừa no bụng, lại vừa được tiếng lịch sự, hay ít nhất là không mang tiếng quá tham ăn, ngay cả khi bị chú gà làm nhiễu kênh truyền tin? Đó chính là bài toán điển hình không chỉ của lí thuyết thông tin, mà của hầu hết các ngành của Toán học hiện đại: nếu xem mỗi yêu cầu lập thành một miền nào đó, thì phải tìm ra đường biên giới phân chia các miền, sao cho mọi yêu cầu đều được thoả mãn trong một chừng mực chấp nhận được.( Bài toán này chắc không chỉ khó trong toán học, mà cả trong cuộc đời: không thể hy vọng đạt được một cách cao nhất mọi mục tiêu, mà vấn đề là phải làm sao cho hài hoà các mục tiêu đó!).

Để giải bài toán đặt ra, trong những năm gần đây đã xuất hiện nhiều kết quả khá thú vị. Một trong những phương pháp mới là dùng các mã hình học đại số vào lí thuyết thông tin. Phương pháp này thực sự bất ngờ vì xưa nay, hình học đại số là ngành trừu tượng nhất trong toán học, và ít ai nghĩ lại có thể dùng nó vào một vấn đề rất thực tiễn. Việc dùng hình học đại số để tìm ra biên giới thích hợp trong lí thuyết thông tin đã góp phần xoá đi biên giới giữa toán học lí thuyết và toán học ứng dụng.

Còn một điều nữa mà tôi chưa nói đến khi kể về hệ thống truyền tin của bà vợ nói trên , đó là vấn đề bảo mật. Nếu có anh chàng nào đó biết được điều giao hẹn của vợ chồng nhà kia và muốn phá vỡ hạnh phúc của họ, hay ít ra chỉ là để trêu chọc thôi, thì anh ta có thể gây nhiễu bằng cách giật dây thật nhanh, để dù bà vợ có “tăng độ thừa” đến đâu, vẫn không thể dứt bỏ được tiếng xấu tham ăn của chồng mình. Vì thế, trong khi truyền tin, nhất thiết phải đặt ra vấn đề bảo mật. Một lần nữa, toán học hiện đại lại có thể giúp ích cho bà vợ bằng cách cung cấp những phương pháp mã hoá hiện đại. Một lúc nào đó, ta sẽ trở lại chủ đề này.

Kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú. Trên đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về mối liên hệ giữa văn học dân gian và toán học hiện đại. Các bạn thử tìm thêm ví dụ khác nhé!

Nguyễn Trung Hà: Học toán cao cấp như 'đốt tiền để sưởi'

Giới kinh doanh ở Việt Nam ít ai không biết Trung Hà, 50 tuổi, và cả quá khứ nổi danh về toán học của anh.

Trung Hà từng được liệt kê vào danh sách dân "gà chọi" khi học cấp ba chyên toán trường Chu Văn An, Hà Nội, giành giải ba toán học sinh quốc tế ở Rumania năm 1978. Được cử đi học ở Nga, anh vào Đại học tổng hợp Moskva, theo ngành toán lý thuyết, môn Lý thuyết số.

Thời gian này, cảm hứng cho môn toán của Nguyễn Trung Hà không nhiều, anh kể rằng luôn cảm thấy chán học nên dành phần lớn thời gian để tìm hiểu nhiều điều khác. "Tôi chỉ học tiếp để hoàn thành nốt bậc đại học mà thôi", anh cho biết.

Sau khi ra trường năm 1985, Trung Hà làm việc tại Viện Cơ học. Đây là nơi nhiều người muốn chen vào, nhưng anh lại bật ra, cùng bạn bè tham gia thành lập tập đoàn FPT và nhảy vào các lĩnh vực kinh tế.

Nói về việc triết lý trong công việc, Trung Hà cho biết: "Tôi không ép mình phải làm gì, cũng không để công việc gây sức ép. Tôi có thể bỏ qua việc, chứ không thể bỏ qua cái mình thích. Quan trọng nhất là biết tổ chức công việc".

Cuộc sống đưa đẩy Trung Hà trở thành doanh nhân và khi đó anh cũng nhận ra suy nghĩ về môn toán của mình ngay thời sinh viên là có cơ sở. Trước đây và ngay cả bây giờ anh vẫn thấy toán thú vị, song còn có nhiều cái thú vị và hấp dẫn hơn toán. Hà nói anh tìm thấy trong bản thân có nhiều khả năng khác hơn là học toán.

Trung Hà không đồng ý khi nhiều người quá đề cao môn toán, bởi anh thấy toán học chỉ ở mức cần thiết vừa vừa. "Toán học không giúp ích gì nhiều cho cuộc sống, đừng nghĩ toán là cái gì đó đặc biệt, có khi môn sinh học và văn học còn gần gũi với cuộc sống con người hơn".

Trong lần đối thoại với giáo sư Ngô Bảo Châu vào tháng 8 năm 2010, anh từng đưa ra quan điểm gây tranh cãi sôi sục trên mạng, khi nói rằng "toán là một trò chơi, giống như môn nhảy cao, ngoài bản thân việc nhảy cao, không có ý nghĩa gì cả, ngoài điều duy nhất có tác dụng về tinh thần".

Trung Hà lập luận rằng mỗi khi giải toán, "người ta cứ phải đi tìm câu trả lời cho cài gì đó che che giấu giấu trong bài toán. Đó đâu phải toán!". Khi giải được bải toán đó, tự người làm toán lại cảm thấy thích thú, vui.

"Tôi thấy người học toán thường đưa ra vấn đề, tự giải quyết và cuối cùng tự tung hô", anh nói.

Đốt tiền để sưởi

Trung Hà kể rằng mấy tháng trước anh cùng bạn bè trong đó có rất nhiều người học toán ra, ngồi chuyện trò về toán học. Khi hỏi về nội dung Bổ đề cơ bản, không ai nói được, trong khi chính họ vẫn ca ngợi đó là công trình nghiên cứu tốt và có sức ảnh hưởng lớn.

Hà cho rằng thời gian anh dành cho toán là hơi nhiều và vì thế chi phí cơ hội cao và lãng phí. Nếu học thứ khác có thể giúp cho xã hội nhiều hơn, anh tâm sự.

"Khi đói và rét, người đó có thể mang tiền ra đốt để sưởi ấm. Đây là phương pháp đúng nhưng rất lãng phí. Việc đầu tư tập trung đào tạo bậc cao nghiên cứu toán cũng vậy", anh ví von.

Trong khi đa số cho rằng người học toán có thể làm bất cứ việc gì và đều thành công, thì Trung Hà phủ nhận. Theo anh, người giỏi toán thì trước hết bản thân họ đã giỏi, có tố chất và trí tuệ tốt, nên làm gì cũng giỏi. Giỏi toán chỉ là hệ quả của một trí tuệ tốt, chứ không phải là nguyên nhân.

Nhìn nhận chương trình toán trong giáo dục hiện nay, Trung Hà cho rằng chỉ cần học toán cơ bản đến hết phổ thông là đủ và kiến thức toán ở bậc đại học là đã bắt đầu không cần thiết.

"Càng lên cao, toán càng ít ứng dụng. Lúc đó nó chỉ phục vụ cho sự phát triển nội tại bản thân nó thôi", Trung Hà bày tỏ.

Vì vậy, nhìn ở góc độ phát triển kinh tế xã hội, cống hiến của toán không nhiều, nhà đầu tư này đánh giá, và cho rằng những bộ óc tốt nên được dùng cho việc gì "khác hơn là tự đặt vấn đề rồi tự giải quyết vấn đề".

Anh cho biết, những người bạn vẫn đang được gọi là làm toán chưa chắc đã làm toán. Còn những người làm toán thật sự thì thường ở nước ngoài, vì toán học giống như môn nghệ thuật, đòi hỏi có khiếu đam mê, cũng như môi trường thích hợp.

Mỗi trình độ phát triển của một xã hội cần một thứ toán khác nhau, ứng dụng hoặc lý thuyết, Hà phân tích. "Đấy là lý do ngành giáo dục của chúng ta cần phân bổ nguồn lực đầu tư như thế nào cho hợp lý.

Nguồn: vnexpress

2/23/2012

Gốc Hy Lạp của các từ ellipse, hyperbola và parabola

Bấm +1 để ủng hộ tuyensinhvn nhé.

Các nhà toán học thỉnh thoảng ghé thăm nơi đây, không biết có từng nghĩ đến gốc của các từ parabola, hyperbola và ellipse (chỉ các đường cong bậc 2) không nhỉ ? Bản thân tôi cũng không nghĩ đến gốc của chúng … cho đến hôm nay. Do nhu cầu bịa ra một từ mới, mà tôi gọi tên là elbolic nên tôi mới phải đi tìm hiểu gốc các từ trên. Kết quả như sau:

* Chúng đều có gốc Hy Lạp (điều này không đáng ngạc nhiên)

* Para có nghĩ là “alongside, đi cùng theo, dọc theo”. Rất hợp lý, như trong các từ paramiliraty, paramedic, v.v.

* Hyper thì có nghĩa là “quá mức” (cái này ai cũng biết)

* Bola thì có gốc từ động từ ballein (“to cast, to throw, tung ra”)

Như vậy, có thể hiểu đường parabola là đường được “tung ra” “dọc theo” cái gì đó. Cái đó ở đây là 1 đường thằng nằm trên 1 hình conic: cắt conic bở i1 mặ song song với 1 đường như vậy thì được 1 parabola. Hyperbolic thì là tung “quá ra”: hai “chân” của một đường hyperbolic “dạng” ra nhanh chứ không còn đi “dọc theo” cùng một đường thẳng.

Còn ellipse có gốc Hy Lạp là elleipsis, chuyển sang Latin thành ellipsis, có nghĩa “thiếu hụt” (falling short). Khi cắt một conic bở i 1 mặt theo 1 góc “bị thiếu hụt” thì đường cắt đó bị “luẩn quẩn ở trong” chứ không chạy ra vô cùng được, và cái đường “luẩn quẩn” đó (do “thiếu hơi nên không chạy ra xa được”) gọi là đường ellipse. Trong toán học về sau, thì những thứ được gọi là “elliptic” thường là những thứ có tính “chạy vòng quanh”, “compact”.

Thế còn elbolic là gì ? Là hợp của elliptic với hyperbolic. Nó có đuôi bolic, tức là vẫn được ném ra xa, đồng thời lại có đầu “el”, tức là có chạy vòng quanh. Từ này dùng để chỉ các hệ (hay các thành phần của 1 hệ) có 2 hướng trong đó 1 hướng chạy vòng quanh và 1 hướng kiểu hyperbolic

(Các thành phần elbolic như trong hình vẽ trên xuất hiện một cách tự nhiên trong các hệ động lực khả tích non-Hamiltonian)

Nguồn: Zungzetamu

2/16/2012

Toán học phổ thông: tồn tại hay không tồn tại?

Câu hỏi “Toán học phổ thông: tồn tại hay không tồn tại?” đặt ra ở một hội nghị bàn về “Giảng dạy toán học phổ thông và toán học phổ thông với toán học hiện đại”, chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, người viết bài này hy vọng sẽ tránh được phần nào “búa riù”, bởi lẽ bản báo cáo không những nhằm mục đich “chứng minh” không tồn tại “toán học phổ thông”, mà còn “chứng minh” sự không tồn tại của “toán học hiện đại”. Nói cách khác, chỉ tồn tại một Toán học duy nhất. Chúng tôi cũng mạnh dạn góp một vài ý kiến rất chủ quan của mình về việc làm thế nào bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê toán học từ những bài học ở nhà trường phổ thông.

Tồn tại khá phổ biến trong học sinh quan niệm cho rằng, toán học đã là một “lâu đài đẹp đẽ”, khó có thể phát kiến thêm điều gì ở đó, và toán học bao giờ cũng rất xa rời với thực tiễn. Vì thế, để hướng cho các em say mê với toán học, không gì hơn là cho các em thấy rõ, từ những trang sách nhà trường đến những ứng dụng lớn lao nhất của toán học chỉ là một bước nhỏ, và hầu như ai cũng có thể vượt qua bước đó, chỉ cần suy nghĩ sâu hơn một chút! Đó cũng là nội dung chủ yếu mà báo cáo này muón đề cập đến, thông qua việc trình bày một số thành tựu quan trọng nhất của toán học, mà một học sinh với kiến thức phổ thông có thể hiểu rõ, ít nhất là về ý tưởng.

1. Từ Eratosthènes đến mật mã khoá công khai.

Ngay từ bậc tiểu học, chúng ta đã biết, sàng Eratosthenes cho cách tìm tất cả các số nguyên tố. Và bất kì học sinh nào cũng biết phân tích một số nguyên ra thừa số nguyên tố. Bài toán tưởng chừng như quá đơn giản, và không còn gì để nghiên cứu nữa. Nhưng phải chăng, việc chúng ta kết thúc bài giảng tại đó là chưa hợp lí? Trong thời đại mà tin học xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống, thiết tưởng nên để cho học sinh biết rằng thời gian để phân tích một số ra thừa số nguyên tố nhiều khi thật khó chấp nhận. Chẳng hạn, thời gian cần thiết để phân tích một số có khoảng 200 chữ số ra thừa số nguyên tố (với một máy tính tốc độ 1 triệu phép tính trên 1 giây) là… 3,8 tỷ năm! Vậy chúng ta đành bó tay trước những số lớn như vậy sao? Ở đây, toán học đã “lợi dụng “ sự yếu kém của máy tính, và đó là nguyên nhân ra đời của một hiện tượng gây nhiều tiếng vang: các hệ mật mã khoá công khai. Nói một cách vắn tắt, tư tưởng của nó là như sau. Để có thể tiếp nhận thông tin mật mà người khác gửi đến cho mình, mỗi người chỉ cần công bố công khai một “khoá lập mã”, là một số nguyên n đủ lớn (khoảng 200 chữ số). Ai cũng có thể mã hoá các thông báo và chuyển cho người cần nhận khi biết khoá n đó. Tuy vậy, để đọc được thông báo đó, cần biết cách phân tích số n ra thừa số nguyên tố, và việc làm này mất hàng tỷ năm! Với người đã công bố khoá thì vấn đề quá đơn giản: số n chính là số mà anh ta nhận được bằng cách nhân hai số nguyên tố đủ lớn đã chọn sẵn. Và như vậy, anh ta chỉ cần giữ bí mật hai số nguyên tố đó, không một ai khác biết các số đó. Điều này thực sự khác với các hệ mật mã cổ điển, khi mà mọi người cùng trong một hệ thống đều nắm được bí mật của nhau, và do đó, bí mật này rất dễ bị lộ.

Sự ra đời của các hệ mật mã khoá công khai là một cuộc cách mạng lớn trong thông tin. Vậy mà để giải thích nó, chỉ cần đến kiến thức của học sinh cấp hai! Điều này đã thực sự xoá nhoà ranh giới giữa toán học “phổ thông” và toán học “hiện đại”, thậm chí, ranh giới giữa toán học lí thuyết và toán học ứng dụng. Một công trình nghiên cứu toán học thuần tuý có thể ngay lập tức bước vào thực tiễn.

Vậy nhưng con đường từ toán học đến thực tiễn không phải bao giờ cũng nhanh chóng và bằng phẳng như vậy. Tôi muốn nói dến một trong những ứng dụng vĩ đại nhất trong lịch sử, và thời gian đi từ lí thuyết đến thực tiễn là vào khoảng 2000 năm! Và một lần nữa, lại là ví dụ cho thấy từ trang sách toán phổ thông có thể đi đến những phát kiến vĩ đại

2. Từ Apollonius đến Kepler và Newton.

Các thiết diện côníc đã được nhà toán học cổ Hy Lạp Apollonius nghiên cứu vào thế kỉ thứ 3 trước công nguyên. Trong nhiều thế kỉ, đó là một lí thuyết đẹp, nhưng cũng giống như nhiều lí thuyết toán học khác, chỉ được xem như các “trò chơi của trí tuệ”. Mãi đến đầu thế kỉ 17, lợi ích của lí thuyết này mới được chứng minh, khi Johannes Kepler phát minh ra luật chuyển động của các hành tinh. Thầy học của ông, nhà thiên văn Tycho Brahe đã tiến hành đo đạc trong vòng 20 năm tại đài thiên văn Uraniborg về vị trí các hành tinh trong hệ mặt trời, và đi đến kết luận rằng, các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo vòng tròn. Sau khi Tycho Brahe qua đời, Kepler lãnh đạo đài thiên văn và ông không bằng lòng với kết luận cho rằng, độ lệch khỏi vòng tròn của quỹ đạo các hành tinh mà đài quan sát được chỉ là sai số đo đạc. Vốn là người rất say mê lí thuyết các đường côníc và hiểu rõ rằng, các đường ellip với hai tiêu cự rất gần nhau trông rất giống đường tròn, Kepler nghi ngờ rằng, các quỹ đạo đã được xem là đường tròn đó rất có thể lại là các ellip. Sau khi kiểm tra lại kĩ lưỡng, Kepler đi đến phát minh vào loại vĩ đại nhất trong lịch sử: các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo ellip. Phát kiến này được Newton chứng minh vào cuối thế kỉ 17 bằng lí thuyết vạn vật hấp dẫn.

Như vậy, bằng trí tuệ của mình, Apollonius đã phát hiện ra những đường cong vĩ đại của vũ trụ, và đẩy nhanh sự phát minh ra một trong những quy luật quan trọng nhất của tự nhiên.

3. Từ Archimede đến Einstein.

Nếu như những ví dụ trên đây cho thấy, đằng sau các khái niệm và kiến thức toán học phổ thông có thể ẩn náu những thành tựu hiện đại nhất của toán học và những phát kiến vĩ đại nhất, thì ví dụ tiếp theo sẽ lại một lần nữa cho học sinh thấy rằng ”lâu đài toán học” không phải đã hoàn hảo như ta tưởng, và ở đó còn nhiều việc cần làm.

Khi bắt đầu với bộ môn hình học, chúng ta đều giảng về một tiên đề rất trực quan, đó là tiên đề Archimede: khi dùng một đoạn thẳng làm đơn vị để đo một đoạn thẳng khác dài hơn, ta sẽ được một số nguyên lần đơn vị đo, và còn lại một đoạn có độ dài bé hơn đơn vị. Chắc ít ai nghi ngờ gì về tiên đề đã nêu. Tuy nhiên, tình hình sẽ thay đổi hẳn khi ta suy nghĩ sâu hơn một chút về sự thống nhất của thế giới vĩ mô và vi mô.

Một trong những bài toán cơ bản mà Einstein có ước mơ giải quyết là xây dựng một lí thuyết trường thống nhất cho cả thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Dĩ nhiên, trong một lí thuyết thống nhất như vậy chúng ta phải dùng “khoảng cách” thống nhất. Điều gì sẽ xẩy ra, nếu khoảng cách này thoả mãn tiên đề Archimede? Khi đo khoảng cách trong thế giới vi mô, ta thường dùng “thang Planck”, bằng khoảng

10-35 cm. Hãy hình dung việc lấy thang đó làm đơn vị để đo khoảng cách giữa các vì sao. Ta sẽ được một số hữu hạn lần đơn vị đo, và có thể “còn lại” một khoảng bé hơn 10-35 cm? Lần này, trực giác khó làm cho ta chấp nhận, như đã chấp nhận tiên đề Archimede bằng trực giác. Vậy, phải chăng để xây dựng được lí thuyết trường thống nhất, ta cần một khái niệm khoảng cách mà trong đó tiên đề Archimede không còn đúng nữa? Câu hỏi này đã được nhiều nhà vật lí nghiên cứu, và trong những năm gần đây đã ra đời bộ môn vật lí không Archimede. Khoảng cách được dùng trong đó chính là khoảng cách không thoả mãn tiên đề Archimede (khoảng cách p-adic) đã được xây dựng từ lâu trong toán học. Một điều thú vị là, định lí Ostrovski khẳng định rằng, nếu trên tập hợp các số hữu tỉ, ta cho một khoảng cách thoả mãn các tiên đề thông thường thì đó hoặc phải là khoảng cách thông thường, hoặc là khoảng cách p-adic với một số nguyên tố p nào đó. Như vậy, việc đưa thêm các khoảng cách p-adic đã vét cạn mọi khoảng cách có thể được cho trên tập hợp các số hữu tỷ. Khoảng cách p-adic có ứng dụng không chỉ trong các bài toán hình học, mà còn cả trong số học. Thực ra, khoảng cách này bắt đầu từ những nghiên cứu số học.

Như vậy, ngay đằng sau một tiên đề của hình học phổ thông, ta đã thấy mầm mống của sự xuất hiện một ngành mới của toán học hiện đại, và thậm chí, một ngành vật lí mới.

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ tương tự để chứng minh rằng, không có khoảng cách nào giữa toán học phổ thông và toán học hiện đại. Vậy thì, chúng ta cần giảng dạy như thế nào để học sinh phổ thông yêu thích môn toán và có hình dung đúng đắn về toán học hiện đại? Đây là một vấn đề quá lớn, và chúng tôi chỉ xin mạnh dạn nêu vài ý kiến chủ quan, xuất phát từ sự phân tích trên đây về quan hệ giữa toán học phổ thông và toán học hiện đại.

4. Dạy theo Bourbaki hay theo các bà nội trợ?

Đã một thời, những bài tập ở phổ thông thường mô phỏng loại toán của các bà nội trợ: một người đi chợ mang theo 100 đồng, dùng hết số tiền đó và mua được 36 con vừa gà vừa chó. Giá mỗi con chó là 4 đồng, giá mỗi con gà là 2 đồng. Hỏi người đó mua mấy con gà, mấy con chó? Thật là một bài toán xa thực tế, vì chẳng mấy ai mua bán như vậy. Dĩ nhiên, cũng có thể đặt những bài toán có vẻ thực tế hơn, nhưng dù sao, vẫn là “loại toán của các bà nội trợ”. Đó là lí do mà trong những năm gần đây, người ta có xu hướng đưa vào chương trình toán những vấn đề có vẻ gần “thực tiễn” hơn. Xu hướng này đặc biệt phổ biến ở Mỹ. Kết quả của phương pháp giảng dạy này còn phải tranh cãi nhiều, nhưng tưởng cũng cần nhắc lại câu của nhà thơ Maiacôpxki khi nói về sự cách tân trong thơ Nga: “ Người đầu tiên phát minh ra 2+2=4 là một nhà toán học vĩ đại, dù anh ta phát minh ra điều đó nhờ việc cộng 2 điếu thuốc lá với 2 điếu thuốc lá. Còn người sau đó phát hiện ra 2 cái đầu tàu hoả cộng 2 đầu tàu hoả bằng 4 đầu tàu hoả thì đã không còn là nhà toán học nữa!” Như vậy, ngay nhà thơ vĩ đại cũng thấy rằng, điều quan trọng ở đây là cấu trúc chứ không phải bản thân các đối tượng đề cập đến trong bài toán. Những người phản đối phương pháp dạy mới ở Mỹ cho rằng, người ta đang dạy cho học sinh thứ toán học “đầu tàu”, và tưởng nhầm là hay hơn toán học của các bà nội trợ.

Nhưng, cũng tồn tại khá phổ biến quan niệm ngược lại. Sự chú ý đặc biệt đến việc cho học sinh làm quen dần với các cấu trúc đại số đã dẫn đến quan niệm về giảng dạy theo “tinh thần Bourbaki”. Trong vài thập kỉ gần đây, quan niệm này gây sự chú ý rộng rãi trong cộng đồng các nhà nghiên cứu và giảng dạy toán học. Những ngưòi ủng hộ quan niệm đó đã có công rất lớn trong việc rèn luyện cho học sinh tư duy trưù tượng, đặc biệt là tránh một số sai lầm do trực giác gây ra. Tuy nhiên, việc đưa vào chương trình phổ thông những khái niệm trừu tượng theo kiểu tiên đề cũng không tranh khỏi gây nhiều tranh cãi. Thứ nhất, không ít người đã đồng nhất “trừu tượng” và “hiện đại”. Họ cho rằng, những gì hiện đại thì phải trừu tượng, và ngược lại. Thực ra, một vài ví dụ nhỏ trong bài này đã phần nào cho thấy sự phát triển hiện đại của toán học nằm trong nhu cầu nội tại của toán học và trong nhu cầu của thực tiễn, và một thành tựu, một lĩnh vực được xem là hiện đại hay không khi nó đáp ứng đến mức độ nào các nhu cầu đó, chứ tuyệt nhiên không phải ở mức độ trừu tượng của nó. Thực ra, trong nghiên cứu, các nhà toán học chỉ dùng trừu tượng ở mức độ “tối thiểu cần thiết”. Qua việc chỉ ra một số thành tựu hiện đại nhất của toán học mà một học sinh phổ thông có thể hiểu được, chúng ta cũng thấy rằng, có thể làm cho học sinh phổ thông hiểu toán học hiện đại là gì, mà không đòi hỏi phải viện đến các khái niệm trừu tượng. Vả lại, một khi học sinh chưa được trang bị đủ “mô hình” cần thiết thì việc tiếp thu các khái niệm trừu tượng thường mang nặng ý nghĩa hình thức. Điều này dễ dần đến việc hiểu sai bản chất của toán học. Nói cho cùng, toán học là sản phẩm của thực tiễn, và nó thực sự dễ hiểu khi ta mô tả nó một cách giản dị và cụ thể.

Tóm lại, mục tiêu của chúng ta là, một mặt, trang bị cho học sinh những kiến thức toán học cần thiết, và những kiến thức đó càng gần với thực tiễn bao nhiều thì càng tốt bấy nhiêu, mặt khác, làm cho học sinh hiểu được bản chất của toán học và say mê học toán. Muốn vậy, không thể chỉ dạy cho học sinh “toán học phổ thông”, bởi lẽ không có một hàng rào nào ngăn cách toán học phổ thông với toán học hiện đại. Chỉ có điều, cần hiểu đúng thế nào là hiện đại, để tránh “trừu tượng hoá” chương trình toán một cách không cần thiết. Đằng sau mỗi bài toán của các bà nội trợ đều ẩn náu một phát minh vĩ đại của toán học hiện đại. Song, đối với người thầy, làm cho học sinh hiểu được điều đó quả là một nhiệm vụ cực kì khó khăn!

Bài nói của GS. Hà Huy Khoái ở Hội thảo về Phổ thông chuyên Toán, ĐHQG Hà Nội tổ chức, tháng 1/1998.

2/15/2012

Thủ thuật chia bài theo thứ tự

Trong thư trao đổi giữa R. Honsberger và M. Gardner có bài toán sau:

Chia các con bài thành các mảng hình chữ nhật bất kỳ.
Sắp xếp các hàng theo thứ tự từ nhỏ đến lớn.

Sắp xếp các cột theo thứ tự từ nhỏ đến lớn

Thật ngạc nhiên, các hàng vẫn theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Tại sao vậy?

2/11/2012

Tìm hiểu một vài mô hình Toán học – Dưỡng sinh

Toán học và Dưỡng sinh, có vẻ chẳng liên quan, dính dáng đến nhau: Toán học nghiên cứu các quan hệ số lượng và hình dạng không gian, còn Dưỡng sinh nghiên cứu các biện pháp bảo vệ và nuôi dưỡng sinh mệnh. Nhưng nếu tìm hiểu sâu hơn sẽ thấy rằng, giữa Toán học và Dưỡng sinh có những mối liên quan đặc biệt. Và trong “thời đại số hóa” ngày nay, khoa học không những đã xây dựng những “mô hình toán học về sức khỏe”, mà còn lập ra được cả những “công thức toán học về thực hành dưỡng sinh” cụ thể. Dưới đây, ta hãy thử tìm hiểu một vài mô hình “Toán học – Dưỡng sinh”, tuy đơn giản mà có thể gợi ra nhiều điều.

Tam giác tuổi thọ

Tuổi thọ của mỗi con người, chỉ có chừng 15% – 20% được quyết định bởi nhân tố di truyền, còn 80% – 85% quyết định bởi nhân tố hậu thiên (phương thức sống). Dựa trên lý luận này, các nhà khoa học Nhật đã “mô hình hóa” tuổi thọ của con người bằng diện tích của một tam giác cân (diện tích tam giác = cạnh đáy nhân chiều cao chia đôi). Diện tích của tam giác càng lớn tuổi thọ càng cao, ngược lại diện tích càng nhỏ tuổi thọ càng thấp. Cạnh đáy tam giác biểu tượng cho nhân tố di truyền; hai cạnh bên phân biệt biểu tượng các nhân tố hậu thiên: điều kiện dinh dưỡng và rèn luyện sức khỏe tâm thần. Một con người, tuy bẩm sinh không thật khỏe mạnh (cạnh đáy tam giác không đủ dài), nhưng ngay từ khi nhỏ tuổi đã chú ý ăn uống đầy đủ, hợp lý và cân bằng dinh dưỡng, đồng thời kiên trì luyện tập thể dục thể thao, làm việc và nghỉ ngơi điều độ, thái độ sống lành mạnh và tâm lý ổn định, thì tuổi thọ vẫn có thể nắm chắc trong tay.

Ðồ thị “Tỷ giá sức khỏe”

“Tỷ giá hình lưỡi kéo”, gọi tắt là “lưỡi kéo”, là một đồ thị rất quen thuộc trong kinh tế học, phản ánh tình trạng mất cân bằng, khi có sự chênh lệch lớn về giá cả giữa hai loại hàng hóa; chênh lệch càng lớn, góc mở của lưỡi kéo sẽ càng rộng ra.
Con người, cũng có thể lâm vào tình huống tương tự. Từ tuổi 40, một mặt các chức năng sinh lý và tâm lý bắt đầu “xuống dốc”, một mặt gánh nặng xã hội và gia đình ngày càng thêm nặng. Cùng với năm tháng, sự khác biệt giữa hai phương diện đó ngày càng gia tăng, hai lưỡi kéo trên “đồ thị tỷ giá” ngày càng mở rộng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tuổi thọ. Vì vậy, bước vào tuổi trung niên, cần căn cứ vào điều kiện sức khỏe và hoàn cảnh của mình, tiến hành điều chỉnh các mục tiêu phấn đấu, xử lý thỏa đáng quan hệ xã hội và gia đình, chú ý làm việc và nghỉ ngơi điều độ, có như vậy mới có thể làm cho hai lưỡi kéo trên đồ thị “tỷ giá sức khỏe” thu hẹp bớt lại.

Mô hình hạnh phúc “1 và 0”

Các con số: 1; 10; 100; 1.000; 10.000; 100.000; 1.000.000;... có thể xem như những chỉ số phản ánh hạnh phúc: “sức khỏe” ký hiệu bằng con số “1”, còn “địa vị”, “tiền tài”, “thành công”, “tình yêu”, “gia đình”,... ký hiệu bởi những chữ số “0”. Có số 1 ở phía trước, càng nhiều số 0 ở phía sau, thì giá trị chỉ số càng cao. Thiếu số 1 ở đầu, cho dù có rất nhiều số 0 theo sau, thì giá trị vẫn chỉ bằng 0: Không có sức khỏe, mọi thứ khác như địa vị, tiền tài,... đều là vô nghĩa.
Từ cổ chí kim, đã có biết bao bậc anh tài, vì không có sức khỏe mà phải chết yểu vô ích. Khổng Tử có 3.000 môn sinh, thành tài chỉ có 72 người; người được Khổng Tử quý nhất là Nhan Hồi, 29 tuổi đầu đã bạc trắng, 32 tuổi đã phải ra đi. Vương Bột, một trong số “văn hào tứ kiệt” thời nhà Ðường, 6 tuổi đã có thể viết văn và làm thơ, nhưng đã chết ở tuổi 29,... Những bài học đau khổ đó khiến chúng ta nhận ra chân lý: sức khỏe là nền tảng của sự nghiệp và hạnh phúc; phải quý trọng sức khỏe và coi trọng thực hành dưỡng sinh.

Thuật toán hoàng kim trong dưỡng sinh
Trong hoạt động dưỡng sinh hằng ngày, muốn đạt kết quả tốt điều cốt lõi là xác định được mức độ phù hợp. Trong toán học, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, Plato đã phát hiện ra một con số đặc biệt, đó là: 0,618 – được mệnh danh là “con số vàng”, hay “tỷ lệ hoàng kim” (bằng khoảng 6/10). Con số 0,618 có những ý nghĩa và tác dụng kỳ diệu trong phép dưỡng sinh, có thể sử dụng để “lượng hóa” nhiều loại hoạt động, giúp tìm ra mức độ tối ưu. Chẳng hạn, vì sao con người lại cảm thấy dễ chịu nhất khi nhiệt độ môi trường bằng 22°C – 24°C? Ðó là vì 22°C – 24°C chính là kết quả nhân nhiệt độ cơ thể 37°C với số hoàng kim 0,618. Muốn khỏe mạnh cần vận động thân thể, lại cũng cần tĩnh dưỡng nghỉ ngơi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ giữa vận động và tĩnh dưỡng bằng 0,618 là tối ưu đối với sức khỏe. Nếu sau khi ngừng vận động nhịp tim nằm trong khoảng 110 lần/phút – 130 lần/phút là thích hợp nhất. Và cả dinh dưỡng, cũng tuân theo quy luật hoàng kim: Mỗi bữa ăn nên có 6 phần thức ăn thô và 4 phần thức ăn tinh (thức ăn thô chiếm khoảng 0,618); tỷ lệ mỡ thực vật và mỡ động vật bằng 6/4; chỉ nên ăn đến lưng lửng bụng (no bụng chừng 6 – 7 phần thôi), ...

Phương trình tuổi thọ
Ảnh hưởng của các nhân tố hậu thiên (phương thức sống) đối với tuổi thọ của con người có thể phân chia thành 2 loại, tích cực và tiêu cực. Nhân tố tích cực có tác dụng làm tăng tuổi thọ, còn nhân tố tiêu cực rút ngắn tuổi thọ. Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu và quan sát tác động của các nhân tố hậu thiên đối với tuổi thọ, nhà khoa học người Nga V. Simalopsky đã phát hiện ra một số quy luật và biểu diễn chúng bởi một công thức toán học, mệnh danh là “Công thức tuổi thọ” như sau:
Tuổi thọ = (tâm trạng ổn định + vận động thân thể + ăn uống hợp lý) : (lười nhác + hút thuốc lá + nghiện rượu)
Như vậy, tuổi thọ của mỗi con người là một “ẩn số” tùy thuộc vào giá trị vế phải phương trình: tỷ lệ thuận với tử số và tỷ lệ nghịch với mẫu số. Tử số, ứng với các nhân tố tích cực, càng lớn, tuổi thọ càng cao. Ngược lại, mẫu số càng lớn (lười nhác + thuốc lá + nghiện rượu), tuổi thọ càng ngắn lại. Muốn làm cho mẫu số nhỏ đi, điều cốt lõi là từ bỏ phương thức sinh hoạt không lành mạnh. Các kết quả các nghiên cứu đã chứng minh rằng: lười nhác là loại chất xúc tác rút ngắn tuổi thọ; nghiện thuốc lá và uống rượu quá mức là nguyên nhân gây nên bệnh tật, dẫn đến lão suy và chết yểu.

Chỉ số hạnh phúc
Nhân tố chủ yếu, quyết định cảm giác hạnh phúc hay đau khổ của con người, không phải là bản thân sự thành công hay sự thất bại, mà quyết định bởi “trị số kỳ vọng” đối với một sự việc nhất định (mục tiêu, nguyện vọng). Vấn đề cốt lõi là: mục tiêu tự đặt ra cho mình có phù hợp hoàn cảnh thực tế hay không. Nói chung, kỳ vọng càng cao, xung đột tâm lý diễn ra càng mạnh, sức khỏe càng dễ bị tổn hại. Một số học giả đã đưa ra công thức về “Chỉ số hạnh phúc” như sau:

Chỉ số hạnh phúc = Trị số hiện thực : Trị số kỳ vọng

Theo công thức này: dục vọng càng lớn, thì chỉ số hạnh phúc càng nhỏ, cuộc đời càng ít niềm vui và càng nhiều cảm giác tiêu cực. Ngược lại, trị số kỳ vọng giảm bớt đi một chút, thì mục tiêu sẽ dễ đạt hơn, chỉ số hạnh phúc sẽ càng cao, cuộc đời sẽ có nhiều niềm vui và có lợi đối với sức khỏe.
Cảm giác hạnh phúc của con người ta, thực ra không tỷ lệ thuận với số lượng những thứ chiếm hữu. Vì vậy, theo một nghĩa nhất định, hạnh phúc chính là cảm giác được thỏa mãn – thông qua quá trình tiết chế – biết cách xác định cho mình những mục tiêu phù hợp thực tế.

Nguồn: Sức khỏe và Đời sống.

2/07/2012

Thiết kế iPhone 4S, logo iCloud và logo Apple dưới góc nhìn toán học

Logo quả táo khuyết của Apple thì ai cũng biết và rất nổi tiếng nhưng ít ai biết cách mà các nhà thiết kế đã tạo ra nó, hay nói cách khác là nó được vẽ ngẫu nhiên hay theo một tỉ lệ nào? Thật tuyệt vời khi người ta khám phá ra rằng logo quả táo được thiết kế theo tỉ lệ vàng được giới hội hoạ và kiến trúc áp dụng trên những tác phẩm kinh điển. Cụ thể, Rob Janoff đã tạo nên logo Apple dựa trên hình chữ nhật vàng và dãy số Fibonacci huyền ảo. Không chỉ có logo quả táo, logo iCloud mới đây, logo Mac OS Lion, iPhone 4 cũng chịu ảnh hưởng từ tỉ lệ vàng (Golden Ratio).


Tỉ lệ vàng trong toán học là một phát minh rất quan trọng và đã có từ lâu đời. Theo Wikipedia, "hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn". Tỉ lệ vàng được ký hiệu bằng ký tự "phi" (φ) và 1 phi bằng 1,618033..., đó là một số vô tỷ. Tỉ lệ vàng được phát minh ra từ khi nào thì không ai biết chính xác, chỉ biết rằng nó đã tồn tại từ cách đây hàng ngàn năm và ứng dụng của nó cũng không hề nhỏ. Các kiến trúc kinh điển như đền thờ Parthenon, Hy Lạp; kim thự tháp Keop (Cheops) hay khuôn mặt nàng Mona Lisa cũng được vẽ theo tỉ lệ vàng... Tỉ lệ vàng trong những tác phẩm kể trên được diễn tả theo một hình chữ nhật vàng, hình có cạnh dài và cạnh ngắn là một tỷ số vàng. Không chỉ có các kiến trúc, hội hoạ áp dụng tỉ lệ vàng mà cơ thể con người, các bông hoa, sự sắp xếp cánh hoa, nhị hoa cũng có sự tồn tại của tỉ lệ vàng.

Bên cạnh đó, tỉ lệ vàng cũng có sự liên hệ với dãy số nguyên Fibonacci. Đây là một dãy số tự nhiên và vô hạn, bắt đầu từ số 0 với quy tắc số sau luôn bằng hai số trước cộng lại. Những số đầu trong dãy Fibonacci gồm: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34... Lấy ví dụ số 8 bằng số 3 và 5 cộng lại hay số 34 bằng hai số 13 và 21 cộng lại...

Như vậy chúng ta đã hiểu tỉ lệ vàng quan trọng và độc đáo tới mức nào, đặc biệt là trong thiết kế. Apple là một trong số những hãng sản xuất ứng dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế các sản phẩm của mình nhất. Người ta tìm thấy sự hiện diện của tỉ lệ vàng trong logo Apple, logo iCloud, thiết kế iPod, thiết kế iPhone và máy Mac... Đầu tiên hãy khám phá logo Apple, logo iCloud và sau đó là thiết kế iPhone 4/4S theo tỉ lệ vàng, hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci.

1. Logo Apple

Ban đầu logo Apple là một hình chữ nhật được thiết kế với hình ảnh Newton ngồi dưới gốc cây táo nhưng sau đó Apple quyết định đổi logo nhận diện thương hiệu thành hình ảnh quả táo khuyết một miếng ở bên phải. Logo này được sử dụng từ những năm 1976 và hình dáng của nó không thay đổi từ khi đó tới bây giờ, dù màu sắc có khác.

Logo quả táo không phải được vẽ một cách ngẫu nhiên trên máy tính mà nó tuân theo hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci. Hình chữ nhật được sử dụng để tạo nên kích thước và kiểu dáng của quả táo khuyến Apple có các hình vuông nhỏ bên trong được phân chia theo dãy số Fibonacci (hình dưới). Hình dáng của quả táo, các đường cong ở hai đầu của quả táo, "vết cắn" bên phải, lá của quả táo đều được tạo hình từ hình chữ nhật vàng với kích thước tuân thủ dãy Fibonacci.


Với các hình tròn trong thiết kế logo Apple, giả sử chúng có đường kính là các số trong dãy Fibonacci (hình trên) thì chiếc lá táo được tạo thành từ hai hình tròn với đường kính là 8. Vết cắn trên thân táo cũng tạo nên bởi một phần của hình tròn đường kính 8. Đường cong phía dưới đáy được tạo thành từ hai hình tròn 5, một hình tròn 8 và một hình tròn với đường kính là 1. Sự cân đối trong logo Apple có được cũng là do tỉ lệ vàng này.

2. Logo iCloud



iCloud là một dịch vụ đám mây mới được Apple giới thiệu và logo của dịch vụ này mô tả một đám mây bồng bềnh trôi. Hình dáng của đám mây đó nằm trong một hình chữ nhật vàng và các gợn mây được tạo nên bởi những hình tròn theo tỉ lệ 1,6 (tỉ lệ vàng). Nếu hình chữ nhật để tạo nên logo iCloud có tỉ lệ hai cạnh là 1:1,6 thì bốn hình tròn bên trong cũng theo tỉ lệ 1:1,6 này.

Không chỉ Apple mà logo của những thương hiệu nổi tiếng khác cũng được cho là sử dụng tỉ lệ vàng để thiết kế. Người ta còn nhìn thấy tỉ lệ vàng với các đường xoắn ốc trong biểu tượng của HĐH Mac OS X Lion (hình đầu con sử tử). Hãy quan sát và suy nghĩ với hình minh hoạ phía dưới.



3. Thiết kế iPhone 4/4S

Không chỉ có logo mà Apple còn được cho cũng sử dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế phần cứng, hãy lấy ví dụ với iPhone 4. Hình dáng của iPhone 4 là một hình chữ nhật vàng với các chi tiết bên trong tuân theo quy luật này. Tỉ lệ vàng còn được tìm thấy ở việc sắp xếp vị trí jack tai nghe, ăng-ten sóng gần đó, micro phụ và cụm camera/đèn flash phía sau máy.







Thậm chí là cả bố cục trang web của Apple



Tiền và toán học ở Việt Nam

Thế giới toán học là thế giới rất đắt tiền. Toàn là tiền triệu, tiền tỉ. Mới đây, qua báo chí, tôi mới biết ngân sách dành cho Viện Toán học cao cấp năm 2012 là 15 tỉ đồng, nhưng số tiền này chỉ tương đương với kinh phí nghiên cứu thường niên của 3 giáo sư bên Tây. Có thật sự kinh phí nghiên cứu toán học ở VN thấp như thế?

Viện toán học cao cấp mới ra mắt công chúng, nhưng đã có ngay những lời bàn ra tán vào. Chính phủ dành hẳn một số tiền lên đến 650 tỉ đồng cho Viện. Số tiền 650 tỉ đồng thoạt mới nghe qua cũng choáng, nhưng tính ra thì khoảng 32.5 triệu USD. Người ta bàn tán xôn xao không phải vì con số 32.5 triệu USD, mà với tuyên bố của ngài Phó thủ tướng rằng không yêu cầu Viện phải nghiên cứu cái gì. Người ta bức xúc vì sự dễ dãi với quản lí tài trợ cho khoa học như thế. Thật ra, tôi lại thấy đó là một điều hay. Tôi nghĩ Chính phủ không nên can thiệp vào định hướng nghiên cứu của Viện. Định hướng nghiên cứu là vấn đề khoa học, nên để cho các nhà khoa học hoạch định.

Số tiền 32.5 triệu USD dành cho Viện Toán cao cấp có nhiều lắm không? Thật khó trả lời câu hỏi này, vì còn tuỳ thuộc vào bối cảnh và điều kiện kinh tế từng nước. Một giáo sư ở VN tiết lộ rằng phần lớn số tiền này dành cho việc xây dựng trụ sở của Viện, chứ không phải tất cả cho nghiên cứu. Như vậy, tuy số tiền mới nghe qua thì có vẻ lớn, nhưng chắc tính ra thì chẳng là bao.

Nhưng thử xem qua một trung tâm khác ở Saudi Arabia chúng ta sẽ có một đánh giá khác. Trung tâm xuất sắc về loãng xương của Saudi Arabia mà tôi có cơ duyên làm thanh tra có ngân sách 20 triệu USD trong 5 năm, nhưng số nhà khoa học lên đến vài chục người (5 giáo sư cơ hữu + 12 PhD + hàng chục “supporting staff”) và trang bị máy móc rất tốn kém. Mỗi 2 năm phải có thanh tra độc lập để đánh giá thành quả nghiên cứu. Saudi Arabia giàu hơn Việt Nam. Nhìn như thế để thấy kinh phí 650 tỉ đồng tuy là nhỏ, nhưng … không nhỏ, nhất là trong điều kiện kinh tế VN hiện nay (nợ chồng chất).

Lại xem thêm một trung tâm khác ở Úc. Úc không có viện toán cao cấp mang tầm quốc gia như ở VN. Viện Garvan (nơi tôi làm việc) đang xây một trung tâm ung thư học. Trung tâm này có hơn 10 giáo sư và 20 nhà khoa học trình độ PhD. Kinh phí xây dựng tốn 20 triệu USD. Trong số này, 10 triệu là do Chính phủ tài trợ, 10 triệu còn lại là Viện phải vận động xin từ các nhà hảo tâm.

Tôi nghĩ một cách đơn giản (có lẽ quá đơn giản) để so sánh kinh phí xây dựng viện/trung tâm nghiên cứu giữa 3 nước là qua thu nhập bình quân. Thu nhập bình quân của người dân Saudi là 22545 USD, Úc là 41805 USD, còn VN thì chỉ 3181 USD. Câu hỏi đặt ra là cần phải có bao nhiêu người dân phải còng lưng ra gánh cái giá xây dựng kia. Bảng sau đây trả lời câu hỏi đó:


Thu nhập bình quân (USD) Chi phí xây dựng viện / trung tâm (triệu USD) Số người dân phải “gánh” chi phí xây dựng
Việt Nam 3181 32.5 10,217
Saudi Arabia 22545 20.0 887
Úc 41805 20.0 478

Như vậy, tính trung bình, phải cần thu nhập của 10217 người dân VN để gánh số tiền xây dựng Viện toán cao cấp. Ở Saudi Arabia, chỉ cần 887 người gánh cho cái trung tâm 20 triệu USD. Còn ở Úc, họ chỉ cần thu nhập của 478 người là có thể xây được một trung tâm ung thư học.

Kinh phí được duyệt cho Viện Toán cao cấp năm 2012 là 15 tỉ đồng, tức khoảng 750 ngàn USD. Bàn về con số này, một vị giáo sư ở trong nước viết: “Số tiền này có lẽ chỉ bằng kinh phí chi cho 3 giáo sư toán học ở các nước phương Tây làm việc hàng năm.” Để chứng minh kinh phí này chẳng là bao, người ta làm so sánh như sau: Viện nghiên cứu toán (Institute for Mathematical Research – INSPEM, Mã Lai) có kinh phí 2 triệu USD mỗi năm; Viện toán Lahore (Pakistan) cũng có ngân sách 2 triệu; Viện toán Viện hàn lâm Đài Loan: riêng tiền thư viện hàng năm là 1 triệu USD, v.v. Không cần so sánh với Hàn Quốc vì sự so sánh đó chắc chẳng có ý nghĩa gì, do quá khác biệt. Nhưng những con số mới nghe qua quả cho thấy nghiên cứu toán ở VN có ngân sách khiêm tốn.

Ai cũng có thể biện minh bằng so sánh. Trái táo và trái cam cũng có thể đem ra so sánh, nhưng ý nghĩa ra sao thì còn tuỳ vào cách hiểu và sự tỉnh táo của mỗi người. Hãy tin rằng ngân sách cho INSPEM là 2 triệu USD/năm, nghe đúng là ấn tượng, nhưng đây là viện có nhiều nhà khoa học cơ hữu (còn Viện Toán cao cấp thì rất ít cán bộ cơ hữu). Nên nhớ rằng thu nhập bình quân của người dân Mã Lai cao hơn dân ta ~5 lần. Táo và cam là ở đây.

Thu nhập bình quân (USD) Kinh phí nghiên cứu mỗi năm (triệu USD) Số người dân phải “gánh” kinh phí
Việt Nam 3181 0.75 236
Mã Lai 15578 2.0 128
Pakistan 2781 2.0 719

Bảng trên đây cho thấy để có 750 ngàn USD, VN cần 236 người gánh chi phí. Trong khi đó Mã Lai chỉ cần 128 người là có thể chi 2 triệu USD. Ngoại trừ Pakistan là “hào phóng” hơn hết – nếu con số 2 triệu USD là đúng.

Viện toán Đài Loan dành ra 1 triệu USD cho thư viện thì đúng là ấn tượng. Một triệu USD có nghĩa là viện này chắc đặt mua hàng ngàn tập san toán học! Viện Garvan của tôi có trên 500 nhà khoa học, mà mỗi năm cũng chỉ chi ra khoảng 300 ngàn USD cho sách vở và tập san khoa học + lương của thủ thư. Có lẽ sách vở và tập san toán đắt tiền hơn tập san y khoa, nên cũng khó so sánh ở đây. Nhưng kinh nghiệm của tôi cho thấy tập san y khoa thường đắt tiền hơn các tập san khoa học tự nhiên.

Thế còn kinh phí 750 ngàn USD chỉ tương đương với kinh phí thường niên cho 3 giáo sư toán học ở các nước phương Tây? Tức là mỗi năm kinh phí cho nghiên cứu của một giáo sư toán là 250 ngàn USD? Rất ngạc nhiên!

Lương của một giáo sư thực thụ (ngành toán) ở Úc khoảng 100 đến 120 ngàn AUD (đôla Úc). Khi giáo sư xin tài trợ cho nghiên cứu, thì số tiền đó không phải để trả lương cho giáo sư, mà chỉ dành cho nghiên cứu và nhân sự nghiên cứu. Nếu người xin tài trợ là postdoc, thì số tiền đó có thể là cho lương bổng và thiết bị + phụ tá nghiên cứu. Ở Úc, kinh phí cho nghiên cứu không có khoản chi tiêu cho đi dự hội nghị, hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar. Tất nhiên cũng có ngoại lệ và có “ăn gian”, nhưng trên nguyên tắc là không có chuyện Nhà nước cấp kinh phí nghiên cứu để … đi máy bay.

Ở Úc, ARC (Australian Research Council) là hội đồng tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và khoa học tự nhiên, kể cả toán học. Mỗi năm ARC tài trợ cho khoảng 700-800 đề án, nhưng trong số này, chỉ có 7% là ngành toán (toán thuần tuý, toán ứng dụng, toán và máy tính). Những dự án này phải trải qua một quá trình bình duyệt (peer review) rất gắt gao. Tính chung, cứ 100 đề cương, chỉ có khoảng 20 đề cương được tài trợ sau khi qua bình duyệt.

ARC thường cung cấp kinh phí cho các dự án nghiên cứu trong 3 năm. Mỗi dự án nghiên cứu về toán học được cấp khoảng 70 đến 400 ngàn AUD, với trung bình là 300 ngàn USD trong 3 năm (có thể xem chi tiết ở đây). Nói cách khác, tính trung bình mỗi dự án toán được tài trợ khoảng 100 ngàn AUD / năm. Do đó, nước phương Tây nào mà dành đến 250 ngàn USD làm kinh phí nghiên cứu thường nghiên cho một giáo sư toán thì quả là quá tuyệt vời. Đó phải nói là thiên đường toán học vậy.

Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy kinh phí thấp không hẳn là vấn đề. Tôi biết có người bạn tự bỏ ra gần 4 ngàn USD tiền túi làm nghiên cứu, và công bố được 5 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế hàng đầu trong chuyên ngành (nếu ở Úc, một nghiên cứu như thế phải tốn đến 100 ngàn USD). Trong khi đó nhiều dự án ở VN tốn bạc tỉ nhưng kết quả thì không đáng tin cậy, và cũng chẳng dám công bố ở đâu.

Theo tôi, so sánh về kinh phí nghiên cứu ở VN và phương Tây là rất khó. Ở phương Tây, một postdoc hưởng mức lương 60-70 ngàn USD/năm, trong khi đó ở VN còn chưa có chương trình đào tạo postdoc! Do đó, lấy kinh phí nghiên cứu của phương Tây làm chuẩn để nói rằng tài trợ cho nghiên cứu ở VN là còn quá thấp thì e rằng không hợp lí. Cách so sánh đó chẳng khác gì nói một tô phở 50 ngàn đồng ở Sài Gòn còn quá rẻ so với một tô phở 12 USD ở Sydney. Nhưng nếu biết thu nhập bình quân đầu người ở VN là 3 USD/ngày so với 115 USD/ngày ở Úc thì chúng ta sẽ thấy tô phở VN đắt hơn nhiều. Nhìn như thế sẽ thấy nghiên cứu toán cao cấp ở Việt Nam có thể còn tốn kém hơn ở Úc.

12/02/2011

Okounkov (Giải Fields 2006) nói về vai trò Toán học trong đời sống xã hội

Andrei Okounkov, Nhà toán học Nga đoạt giải Fields 2006, GS Đại học Princeton – Hoa Kỳ (2002 - 2010), Columbia University từ 2010, nói về vai trò Toán học trong đời sống xã hội trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Nga Olga Orlopva.

Kể từ khi ông bước vào con đường khoa học đến nay quan niệm của ông về tầm quan trọng của những gì ông thực hiện có thay đổi không?


Andrei Okunkov: Đúng ra thì tôi có thể nói rằng mới đầu tôi có sự đam mê một số thứ nhưng chưa có ý thức, thiên về bản năng, còn bây giờ tôi làm công việc của mình theo chủ ý; đối với tôi chúng có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, một trong những thành phần cơ bản của khoa học đấy là sự tò mò. Và đơn giản như thời kì Liên Xô có câu, khoa học-đấy là…

…thỏa mãn sự tò mò bằng kinh phí Nhà nước.

Đúng vậy, và điều này thường được coi là cái gì đó tiêu cực. Tôi thì ngược lại, coi điều ấy như một hiện tượng tích cực. Người ta vẫn trả công cho nhà khoa học vì cái mà anh ta còn giữ được trong mình, đó là sự tò mò của trẻ thơ. Bởi phần lớn các phát minh con người thu được đều theo kiểu một người thông thái [trong trạng thái tò mò] nào đó nhìn vào một quả cầu tinh thể và nhận ra cái gì đó. Còn mọi người thì nghĩ [theo cách thực dụng], rằng người ta thu được các phát minh là do sự vật này hay sự vật kia xảy ra hoặc không xảy ra.

Ở đây có yếu tố trò chơi?

Vâng. Chắc chị đồng ý là một lượng rất lớn các phát minh thu được chính bằng cách đó.

Động cơ của ông giống với hồi tưởng của bất kì nhà bác học nào, của gần như bất kì thế hệ nào. Giống như bốn mươi năm trước, hay một trăm năm mươi năm trước – sự tò mò mang tính trực tiếp của tuổi thơ đã lôi cuốn con người vào khoa học. Nhưng mặt khác ngày nay rất nhiều nhà bác học khi giảng bài nói rằng ngày nay những người trẻ tuổi đã trở nên thực dụng hơn.

Tôi có cảm giác là bản chất con người không thay đổi nhanh đến thế. Nếu chúng ta lấy một người trung bình trong những thời điểm đặc biệt của xã hội, ví như lịch sử mà đất nước chúng ta trải qua vào giữa thế kỷ hai mươi, khi đó con người có thể ít tính thực dụng hơn, thứ vốn đặc trưng cho bản chất con người. Nhưng trường hợp này rất hiếm. Còn nói chung buộc tội con người vào tính thực dụng thì hơi kì quặc.

Khi người ta hỏi một trong những giảng viên tuyệt vời của ngành hội họa rằng các học trò của ông ta khác gì với những người cùng thời, ông ta đã trả lời: “Các anh biết đấy tôi cảm thấy điều này rất rõ. Khi mới đến với nghệ thuật chúng tôi muốn làm đảo lộn nó, và chúng tôi không chấp nhận điều gì kém cao quý hơn. Nhưng trải qua thời gian, chúng tôi đã trở thành những họa sĩ chuyên nghiệp và giành được chỗ đứng của mình, chẳng hạn như tại các hãng quảng cáo v.v. Còn hôm nay đến học với tôi là những người ngay lập tức nghĩ làm thế nào vào được các hãng quảng cáo tốt. Họ đã đặt ra những mục tiêu thiếu sáng suốt”. Liệu trong toán học có thể quan sát thấy cái gì tương tự không?

Có lẽ, chỉ ở thế hệ trước mới không hoàn toàn hiểu một cách rõ ràng rằng để hiểu được tất cả là không thể. Thậm chí toán học thuần túy, hay ngay cả một bộ phận nào đó của toán học thuần túy đã đơn giản là rộng lớn đến nỗi vượt quá khả năng thấu hiểu của con người. Có thể bốn mươi năm trước người ta chưa rõ nhưng bây giờ thì hoàn toàn rõ. Vấn đề về tính phức tạp trong khoa học là một trong những vấn đề trung tâm hiện nay. Bởi vì chị hãy xem quy mô của các dự án khoa học đã trở nên rộng lớn như thế nào, mức độ tập trung của những cố gắng về sức lực, vật chất và nhân lực đòi hỏi để thực hiện một bước ngoặt trong khoa học là nhiều thế nào, thì chị sẽ hiểu rằng điều này từ lâu đã vượt qua khả năng của cá nhân nhà khoa học.

Ý ông muốn nói rằng nhiều dự án khoa học bây giờ mang tính tổng hợp nhiều nguồn lực. Rằng bên trong một nước đã không thể tiến hành thí nghiệm ở nhiều lĩnh vực, ví dụ trong vật lý, thiên văn?

Vâng, tôi còn chưa nói đến những cái quá rõ ràng, kiểu như dự án LHC (Larg Hadron Collider-Máy gia tốc hạt lớn). Nhưng ngay trong toán học, để thật sự chứng minh những định lý quan trọng người ta thường phải tiến hành với việc huy động nhiều người khác nhau cùng kiểm định. Khoa học đã quá phức tạp đối với một người.

Nghĩa là đang xây dựng một hệ thống phức tạp các chứng minh mà việc kiểm tra tính đúng đắn của mỗi mắt xích cần thiết phải có các chuyên gia hẹp?

Đúng vậy, hãy hình dung các anh đang xây một ngôi nhà. Có nghĩa sẽ cần tới thợ nề, thợ ống nước, thợ điện. Tất nhiên nếu để làm cái gì đơn giản cho một căn nhà nghỉ ngoại ô thì với kiến thức của những gì người ta đã dạy [trong các trường phổ thông] và một cuốn cẩm nang là các anh có thể tự làm lấy. Nhưng nếu nói đến làm cái gì đó ở trình độ cao nhất thì phải cần đến những người suốt đời nghiên cứu vấn đề đó. Sự hợp tác tương tự có thể xảy ra ở cùng một bài báo, hoặc có thể là khi một bài báo phải dựa trên kết quả của hàng chục bài khác mà ở đó những người khác đã chứng minh những định lý cần thiết. Tất nhiên trong toán học có những thiên tài khác nhau, họ có thể làm rất nhiều. Nhưng người làm được tất cả thì không thể có. Theo nghĩa đó thì phải luôn tin vào sức mình, luôn phải hướng tới các ngôi sao nhưng mặt khác sự hiểu biết thực tế về khả năng của mình cũng rất cần. Một sự thực dụng nào đó cũng cần trong toán học.

Nói chung toán học là một khái niệm rất không rõ ràng. Vì rằng trong Toán có toán, giống như trong thể thao có dạng thể thao dành cho các thành tựu cao siêu, và có cả thể thao quần chúng. Về toán học của những thành tựu cao, tôi có cảm giác là nó sẽ sống được ở mức độ này hay mức độ kia. Hiện tại ở Moscow có một loạt các trung tâm khoa học cao cấp: Viện Các vấn đề truyền tin của chúng tôi, Viện Toán cao cấp Scheclop, Đại học Toán học Moscow, và bây giờ lại mở thêm khoa mới ở Trường kinh tế cao cấp. Đồng thời cũng có kiểu toán học ở trình độ của các kĩ sư trung bình. Hoặc toán học cho các nhà khoa học trong các lĩnh vực ứng dụng toán học. (Nhưng người ta không thể gọi những nhà khoa học này là nhà toán học).

Ở Mỹ học vấn toán học trung bình đang giảm xuống?

Đúng vậy, thậm chí ở cả những kỹ năng cơ bản cần thiết cho một phần của giấc mơ Mỹ. Ví dụ mỗi người Mỹ đều mơ trở nên giàu có khi về hưu. Nhưng có cảm giác là đa số người Mỹ đều không có những kỹ năng tối thiểu để thực hiện kế hoạch đó – ví dụ một số kĩ năng của lí thuyết xác suất để giúp đưa ra những quyết định tài chính có ý nghĩa. Thậm chí điều này xảy ra cả với những người học vấn tương đối.

Và tôi cũng lo lắng điều này cả ở Nga. Tôi có cảm giác trình độ phổ thông về toán học của Nga không tăng lên. Vinh dự và đáng khen cho những bạn đạt các giải Olimpic của chúng ta. Nhưng điều tôi lo lắng là [người ta không đủ khả năng để ứng dụng toán học, ví dụ như để cải thiện] sức khỏe của dân chúng.

Vai trò của toán học trong các ngành khoa học xã hội ra sao?

Một câu hỏi phức tạp. Trong các ngành quản lý tài chính, hay quản lý một tài nguyên nào đó, tất nhiên cần sử dụng toán học phức tạp. Nhưng tôi nghĩ, sẽ chưa có được những mô hình định lượng được những quá trình phức tạp hơn trong những năm tới. Tri thức toán học về các quá trình liên quan đến con người thực là rất phức tạp, tới mức chạm vào ranh giới của cái không thể. Có thể áp dụng toán học ở một số khía cạnh nào đó của cuộc sống ví dụ như dự đoán sự thay đổi tỉ suất hay cổ phiếu. Nhưng việc dự đoán cổ phiếu cũng rất phức tạp, và ai đó chỉ cần dự đoán được cổ phiếu là đã có thể trở nên hết sức giàu có. Bởi vậy ở các ngành khoa học xã hội, chỉ có thể ứng dụng toán học với những cái chỉ đòi hỏi dạng toán học đơn giản.

Toán học đơn giản?

Toán học tất nhiên là phức tạp nhưng toán học ở đây không ở mức phức tạp đòi hỏi như trong vật lí – toán hiện đại. Toán học ở đây mô tả những quá trình có thể mô tả, chúng khá đơn giản và chúng được mô tả bằng loại toán học đơn giản.

Nếu tạm bỏ qua vấn đề sức khỏe dân chúng, thể xác cũng như trí óc và trở về với số phận khoa học thì xin hỏi một câu. Một trong những chuyên gia trong trường quay hôm nay, nhà vật lí Alekxander Panov, đã trình bày với chúng tôi một số kịch bản cáo chung cho khoa học trong nền văn minh của chúng ta. Ý tưởng cơ bản là khoa học cần phải chấm dứt vai trò thủ lĩnh của sự phát triển của chúng ta. Theo ông điều này có vẻ đúng không?

Một câu hỏi phức tạp. Luôn luôn khó nói về xã hội mà chúng ta đang đối mặt. Do một số nguyên nhân, xã hội theo nghĩa nào đó là đối tượng bị phân chia [thành các nhóm]. Và chừng nào lịch sử chưa kết thúc thì rất khó hiểu ai đúng ai sai, ai thắng ai thua. Đó là sự đối đầu của tất cả các lực lượng, trong đó mọi lí thuyết tất yếu được huy động. Bởi vậy nó bắt đầu tương tác với chính mình. Nhưng có một điều về xã hội chúng ta có thể hiểu rất rõ ràng là: chúng ta đang sống ở thời đại mà trong đó tuổi đời trung bình của một công nghệ tính tới khi nó bị thay thế, hay tuổi đời trung bình của một bước ngoặt khoa học trước khi nó bị thay thế bởi một bước ngoặt khác, đã trở nên ngắn hơn rõ rệt so với đời sống của con người.

Vậy điều này sẽ dẫn đến cái gì?

Đây là điều thú vị. Mặc dù tôi không thể trả lời câu hỏi này. Tôi hoàn toàn có thể hình dung ra tình huống khi phản ứng của xã hội đối với sự phức tạp này thể hiện ở chỗ một số người nghiên cứu khoa học trong khi một số khác không có một hình dung nào về khoa học. Đơn giản vì sự hình dung về khoa học của họ chỉ trong mười năm đã hoàn toàn không phù hợp.

Các nhà bác học, các kĩ sư, những nhà sáng chế công nghệ cao và những người sử dụng các công nghệ ấy – họ thuộc về những thái cực khác nhau. Trong đầu họ là những bức tranh tuyệt đối khác nhau hình dung về việc thế giới được tạo dựng ra sao, và theo một nghĩa nào đó thì đó là những người nói những ngôn ngữ khác nhau. Liệu ông có cảm giác đấy là một tình huống bất ổn định và nguy hiểm?

Theo một nghĩa nào đó thì điều này là tất yếu. Trong mọi xã hội ở mọi mức độ phức tạp, tất yếu đều có sự phân công chuyên môn hóa, và sau đó người ta lại cố gắng bằng cách nào đó để không vì sự chuyên môn hóa mà mất đi nhận thức về bức tranh tổng thể. Điều thứ nhất là tất yếu, điều thứ hai là mong muốn nhưng không phải khi nào cũng đạt được.

Khi tôi nói rằng xã hội bị phân hóa dưới tác động của khoa học là tôi ngụ ý điều này. Và sự phân công chuyên môn hóa có thể xẩy ra bên trong một xã hội, hoặc có thể giữa các nước khác nhau. Ví dụ ở Hàn Quốc học sinh học từ 7 giờ sáng tới một giờ đêm. Chính xác hơn là tới 10 giờ tối, còn sau đó là các buổi học thêm mà tất cả mọi học sinh đều tham gia. Hình như những học sinh này cố gắng học thuộc các thiết bị được chế tạo như thế nào. Họ sẽ là các kĩ sư của những điện thoại di động mới mà chúng ta sẽ sử dụng.

Các tầng lớp xã hội khác nhau của những xã hội khác nhau, đều có những phản ứng khác nhau đối với điều này. Một số người cố gắng không bị lạc hậu khỏi sự phát triển hết sức nhanh chóng và năng động của khoa học, một số khác thì muốn đơn giản là bỏ qua (và điều này cũng dễ lý giải). Giống như người ta vẫn quan niệm bánh mì là máu của đời sống, nhưng các thợ bánh mì chỉ chiếm một phần nhỏ trong cộng đồng, và hoàn toàn không nhất thiết tất cả mọi người đều biết nướng bánh mì. Khoa học cũng vậy, cũng là một dạng bánh mì, máu của đời sống, và việc mọi người tham gia vào khoa học là điều quan trọng, nhưng không nhất thiết ai cũng phải trở thành nhà khoa học.

Trần Đức Lịch dịch